PHẦN
MỞ ĐẦU
MD.1 [start – VT – 1939 words]
1. LƯ DO VÀ MỤC ĐÍCH
NGHIÊN CỨU
Quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa
thuộc lănh thổ Việt
Nghiên cứu
đề tài này không những là do nhu cầu của
giới nghiên cứu khoa học mà c̣n đáp ứng
được nhu cầu thực tiễn đối
với quốc dân cũng như các nhà lănh đạo,
nhất là cho cuộc đấu tranh chính trị và
ngoại giao bảo vệ chủ quyền của Việt
Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngoài ra,
bản thân người nghiên cứu vốn quan tâm
đến vấn đề này từ hơn 25 năm nay,
muốn có cơ hội để hệ thống hoá,
tổng hợp tất cả các tài liệu và t́m hiểu
đầy đủ, thấu đáo việc xác lập
chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Công
tŕnh nghiên cứu nhằm mục đích :
1. Cung
cấp tư liệu một cách tổng hợp, hệ
thống và cặn kẽ về quá tŕnh xác lập chủ
quyền của Việt
2 Cũng
từø đó,
giúp cho việc phản bác những luận
điểm biện minh cho sự xâm phạm của các
nước ngoài đối với chủ quyền Việt
Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
hầu thấy được thực chất của t́nh
trạng xâm phạm chủ
quyền để xây dựng các đối sách lâu dài
bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Góp
phần xây dựng nhận thức rơ ràng về trách
nhiệm tranh đấu giành lại chủ quyền trên
quần đảo Hoàng Sa và bảo vệ chủ quyền
trên quần đảo Trường Sa của nhà
nước và nhân dân Việt Nam.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN
ĐỀ
l Trước năm 1975.
Trước
năm 1909, chủ quyền
của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa chưa bị Trung Quốc và các nước
khác xâm phạm. Năm1907 là năm xảy ra việc
người Nhật chiếm đảo Pratas. Trung Quốc
đă phản đối sự chiếm đảo Pratas
này của người Nhật cho rằng đảo vô
chủ. Để ngăn chặn sự bành trướng
của Nhật xuống phía Nam và tránh xảy ra sự
kiện "Pratas thứ 2", Trung Quốc đă
đặt tên một loạt các đảo ở Biển
Nam Hải trong đó có Tây Sa và Nam Sa mà Trung Quốc cho là
đảo vô chủ. Lúc này, Nam Sa chưa
xuống dưới vị trí của Trường Sa
của Việt
Ngoài nhà
nước Việt Nam, các nhà nghiên cứu nước ta
cũng đă quan tâm, ghi chép các hoạt động của
đội Hoàng Sa, Bắc Hải như Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục, Phan
Huy Chú trong Dư Địa Chí
(Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí),
Nguyễn Thông trong sách Việt
Sử Cương Giám Khảo Lược (quyển 4,
năm 1877)..., [207]
Cũng
trong thời gian chưa có sự xâm phạm chủ
quyền ở Hoàng Sa, nhiều tác giả trong đó có
cả người Trung Quốc và các nhà nghiên cứu
Phương Tây cũng đă đề cập đến
Hoàng Sa hoặc đến việc xác lập chủ
quyền đối với Hoàng Sa của các nhà cầm
quyền Việt Nam như Giám Mục Taberd [185], [186] Gutzlaff [157], quan trọng là
những người Pháp từng hoạt động giúp
Nguyễn Aùnh tức Vua Gia Long như Dayot, Chaigneau đă xác định
Vua Gia Long đă tái xác lập chủ quyền trên quần
đảo Hoàng Sa.
Ngoài công
việc vẽ bản đồ hàng hải trong đó
tại Biển Đông có dải đảo Hoàng Sa (Paracels)
chạy dài suốt dọc ngoài khơi biển Champa hay
Cochinchine, những bút kư, thư từ của người
Tây Phương (Bồ, Hoà Lan, Pháp, Anh) về hải tŕnh,
các vụ đắm tàu đều được ngư
dân và quân lính Đàng Trong đem về đất liền
giải quyết.
Sau
năm 1909, tổng đốc Quảng Đông bắt
đầu có ư định xâm phạm chủ quyền
của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, cho
rằng Hoàng Sa chưa thuộc về nước nào (sic!).
Lúc này, Việt Nam đang c̣n bị ách đô hộ của
đế quốc Pháp, bắt đầu mới có
nhiều người thực sự quan tâm nghiên cứu
về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, song
mới chỉ là những bài báo. Rộ lên nhất là
cuối thập niên 20 đầu thập niên 30. Tiêu
biểu là Lapicque viết trong Revue Indochinoise số 38,
1929 [166] sưu tầm một số tài liệu xác
định chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa và
trưng bằng cớ chính quyền địa
phương Trung Hoa nhân vụ những người Trung
Quốc cướp trên tàu bị đắm Le Bellona năm
1895 và tàu Imazi Maru năm 1896 đă từ chối chủ
quyền, không trách nhiệm về việc cướp nói
trên ở quần đảo Hoàng Sa v́ cho rằng “Paracel”
không thuộc chủ quyền Trung Quốc. Sau đó hàng
loạt những bài báo của Henri Cuchrousset đăng trên
báo Eveil Economique de l’Indochine từ năm 1929 đến 1931
[146 -152] đưa ra những bằng chứng chủ
quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, trách cứ chính
quyền Pháp đă quá lơ là
trong việc xác nhận và bảo vệ chủ quyền
ở đảo Hoàng Sa, đến nỗi đă bị
dự thẩm Barbet ra lệnh khám xét ban đêm để
buộc nhà báo phải nộp cho toà các hồ sơ liên quan
đến Hoàng Sa. Chính v́ vậy đă có tác động,
chính quyền Pháp, vào những năm sau đó đă tái xác
nhận chủ quyền ở Hoàng Sa (Paracel) và
Trường Sa (Spratly) với những hành động
cụ thể như khảo sát, cắm cọc, thiết
lập hải đăng, đài khí tượng và trại
lính (vào những năm đầu thập niên 30). Trong
những năm này có nhiều công tŕnh nghiên cứu
địa lư Hoàng Sa.
Trong
thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ
hai và chiến tranh kháng chiến chống Pháp, ít ai quan tâm
nghiên cứu đến Hoàng Sa.
Sau
năm 1954, theo hiệp định Genève, Hoàng Sa,
Trường Sa thuộc về chính quyền Sàig̣n kiểm
soát. Năm 1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút
khỏi Việt
Tiếp
đó, năm 1972 xuất hiện công tŕnh luận văn
tốt nghiệp Ban Đốc Sự của Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh (Sàig̣n ) của Đinh Văn
Cư với đề tài : “Chủ quyền quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, dày 137 trang đánh máy
[24]. Công tŕnh trên dành hơn 1/4 nội dung nói về hoàn
cảnh địa lư và tŕnh bày diễn tiến sự tranh
chấp chủ quyền của nhiều quốc gia tại
Hoàng Sa.
Tới
năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa xâm chiếm toàn bộ
quần đảo Hoàng Sa, nhiều công tŕnh đă
được thực hiện trong năm này, trong đó có
tập tư liệu bằng tiếng Pháp của Vơ Long Tê
với nhan đề “ Les Archipels de Hoang Sa et de Truong Sa
selon les Anciens Ouvrages Vietnamiens
d’Histoire et de Geographie”, in năm 1974 dày 201 trang [187]. Đây là
bản dịch tiếng Pháp các đoạn trích những thư tịch cổ Việt
[start - VT]
MD.2 [start – NQH – 2838 words]
l Sau năm 1975.
Một
số cơ quan như Ban Biên Giới Chính Phủ, Viện
Nghiên Cứu về Trung Quốc, các trường
đại học bắt đầu quan tâm đến
vấn đề Hoàng Sa, đặc biệt sau cuộc
chiến tranh xâm lược của Trung Quốc tháng 2
năm 1979. Tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại Giao nước
Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố
tài liệu “chủ quyền của Việt Nam đối
với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Tháng 1
năm 1982, Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hoà Xă
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
lại công bố cuốn sách trắng “quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lănh
thổ Việt Nam”. Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao
nước Cộng hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt
Cuốn
“Hoàng Sa, quần đảo Việt Nam” 90 trang của Văn Trọng [134]
là đúc kết cô đọng
và chú trọng về phần tranh chấp chủ quyền
với Trung Quốc thêm một số h́nh ảnh, như bia
chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa chụp năm 1938, trên quần đảo
Trường Sa chụp năm 1961.
Gần
đây có một số đề tài nghiên cứu khoa
học cấp quốc gia về Hoàng Sa,
Trường Sa đang được tiến hành. Trong
đó có đề tài như "Hợp Đồng Nghiên
Cứu Khoa Học Về Lịch Sử Chủ Quyền
của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa", mă số BĐHĐ 01 - 01 do PTS
Nguyễn Quang Ngọc (ĐHTH Hà Nội) chủ tŕ đă
báo cáo tổng kết ngày 30/4/1995 và Hội Thảo Quốc
Gia “Luận cứ Khoa Học Lịch Sử, Địa Lư
và Pháp Lư chủ quyền Việt Nam trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa” tại Hà Nội ngày
18/1/1996 cùng một số kết quả được
tiếp tục công bố trong những năm sau đó.
Riêng
bản Hợp Đồng Nghiên Cứu Khoa Học trên,
bước đầu đă có những đóng góp đáng
kể về bản đồ cổ Việt
Trong
Hội Thảo Quốc gia 18/1/1996 trên, gồm 15 bản báo
cáo đóng góp đáng kể về việc nghiên cứu
lịch sử tranh chấp Hoàng Sa với Trung Quốc
cũng như tư liệu về phía Trung Quốc, từ
t́m hiểu hệ thống bản đồ của Trung
Quốc của Nguyễn Quang Ngọc để chứng
minh cho đến 1909 bản đồ Trung Quốc chưa
bao giờ vẽ đến Hoàng Sa đến quan
điểm của Trung Quốc về Hoàng Sa -
Trường Sa của Hoàng Ngọc Bảo, quan điểm
của Đài Loan về Hoàng Sa - Trường Sa của Nguyễn
Huy Quy hay t́m hiểu về
bộ sưu tập tư liệu Hoàng Sa của Hàn
Chấn Hoa (Trung Quốc) chủ biên do Phạm Kim Hùng
phụ trách. Ngoài ra vấn đề pháp luật quốc
tế về thủ đắc lănh thổ của
Nguyễn Đăng Dũng hoặc án lệ đảo
Clipperton của Đinh Ngọc Linh hoặc xây dựng
hệ quản trị tư liệu Hoàng Sa
- Trường Sa bằng máy tính của Nguyễn Quốc
Toản.
Một
số công tŕnh khác cũng được công bố như
vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa trong quan hệ
Việt Trung trong cuốn "Sự Thật về
những lần xuất quân của Trung Quốc và quan
hệ Việt Trung" do nhà xuất bản Đà Nẵng
in năm 1996 hay có tác giả tổng hợp lại
những tài liệu đă công bố in thành sách như ông
Nguyễn Q. Thắng. Một số luận án phó tiến
sĩ, tiến sĩ có liên quan đến Hoàng Sa và
Trường Sa hay Biển Đông như luận án cuả
PTS Trần Công Trục ở
Việt Nam, của TS Nguyễn Hồng Thao ở Pháp (1996),
của PTS Đỗ Ḥa B́nh ở Liên Xô cũng đă
được bảo vệ, song chủ yếu về vấn
đề pháp lư của Hoàng Sa và Trường Sa hay Biển
Đông .
Ngoài
ra c̣n có một số bài báo của nhiều tác giả
đăng trên báo Nhân Dân, Tạp Chí Lịch Sử Quân
Sự, Tạp Chí Hán Nôm, Tạp Chí Xưa và Nay…
Như
thế, các nhà nghiên cứu Việt
Các
nhà nghiên cứu Phương Tây cũng ngày càng quan tâm hơn
về vấn đề Hoàng Sa và
Trường Sa. Pierre Bernard
LaFont viết phần “Les
Archipels Paracels et Spratley trong cuốn Confit de frontières
en mer de Chine Méridionale, xuất bản năm 1989 [165].
Đăc biệt cuốn “La souveraineté sur les Archipels Paracels
et Spratley” của bà M.C. Gendreau [155], chủ tịch Hội
Luật Gia Châu Aâu là một công tŕnh khoa học có quan
điểm khách quan cho rằng Việt Nam là nước có
đủ danh nghĩa thực thi chủ quyền tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên mạng
internet tháng 12-1999 cũng có hơn 900 tài liệu nói
đến Paracels và Spratley (hiện nay có 970 tài liệu).
3 . ĐỐI TƯỢNG,
PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI.
Đối tượng nghiên cứu
của luận án là quá tŕnh xác lập chủ quyền
của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Tác giả đi sâu nghiên cứu những
tư liệu minh chứng và những hoạt
động cùng những
lời khẳng định của nhà nước Việt
Nam về việc xác lập, chiếm hữu, bảo
vệ chủ quyền của ḿnh trên quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa trong quá tŕnh lịch sử khi
chưa có sự xâm phạm của nước ngoài và trong
thời kỳ bị xâm phạm chủ quyền. Qua đó
tŕnh bày những luận điểm, luận cứ,
luận chứng về chủ quyền của Việt Nam
trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa .
Trọng tâm nghiên cứu của đề
tài là quá tŕnh xác lập chủ quyền Việt Nam về
mặt lịch sử trong
thời kỳ chưa có xâm phạm của các nước
ngoài và khi đề cập
đến sự xâm phạm của các nước ngoài
trong bối cảnh sự xâm phạm chủ quyền
Việt Nam của Trung Quốc là chủ yếu và
đưa ra những luận điểm phản bác
đối với những biện minh xâm phạm chủ
quyền Việt Nam của Trung Quốc v́ chỉ có
nước này mới thực sự quan tâm đến các
luận điểm về lịch sử. Từ đó
đưa ra những đối sách lâu dài về việc
bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
4. PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC NGUỒN TÀI LIỆU
SỬ DỤNG
Phương
pháp chủ yếu được sử dụng là
phương pháp nghiên cứu lịch sử theo quan
điểm duy vật lịch sử. Người nghiên
cứu vận dụng phương pháp luận lịch
sử và phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ
thể cùng phương pháp lôgích.
Công tác sưu tầm sử liệu
được đặt lên hàng đầu, làm thế nào
sưu tầm đầy đủ, phát hiện những
tư liệu mới, tiếp cận đến các tài
liệu gốc, tài liệu bậc một. Tác giả
trước hết dựa vào các sách về thư tịch,
những tài liệu tham khảo của các công tŕnh nghiên
cứu đă có trước, các tổng mục sách báo, sách
dẫn. Tác giả c̣n đọc trực tiếp từng
trang những tài liệu có khả năng đề cập
đến Hoàng Sa vàTrường Sa.
Về các nguồn tài liệu
được sử dụng, luận án quan tâm đến
các nguồn tư liệu gốc, sử liệu bậc
một, từ nguồn sử liệu chữ Hán của
Việt Nam cũng như của Trung Quốc. Luận án
phối kiểm các bản dịch khác nhau, kiểm tra các
nguyên bản, xử lư thích đáng đối với các
dị bản (phần lớn đă được kèm theo
ở phần phụ lục). Tài liệu bằng chữ
Hán của Việt Nam rất phong phú, trong đó có phần
đă được tác giả sưu tầm và có nhiều
chuyên viên chữ Hán phiên âm và dịch thuật vào năm 1975,
khi tác giả chủ biên Tập San Sử Địa số
29 đặc khảo về Hoàng Sa, cũng như khi
viết bài « Những sử liệu chữ Hán minh
chứng chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua nhiều thế
kỷ » dưới bút hiệu Hăn Nguyên. Sau năm 1975,
được bổ sung từ nguồn tư liệu châu
bản rất có giá trị trong thời Minh Mạng và
Thiệu Trị của Viện Hán Nôm Hà Nội, cũng
như nguồn tư liệu chữ Hán do công sưu
tầm của chuyên gia hán
học đặc biệt về tài liệu của Trung
Quốc như Phạm Kim Hùng hoặc của nhà sử
học Tôn Thất Dương Kỵ Nguyễn Quang Ngọc
và Vũ Văn Quân đi nghiên cứu điền dă tại
Sa Kỳ – Cù Lao Ré (huyện đảo Lư Sơn) hoặc các
tài liệu của Ban Biên Giới Chính Phủ, Bộ
Ngoại Giao.
Các nguồn tư liệu phương Tây
đă được phổ biến trên sách báo cũng
được tác giả sưu tầm, phối kiểm
từ nguyên bản, chứ không chỉ qua các bài dịch hay
đă được ghi chép lại trong các công tŕnh nghiên
cứu trung gian (có kèm ví dụ bản « photocopy »
nguyên bản tư liệu ở phần phụ lục).
Công tác khảo chứng, xử lư, đánh giá tư liệu
cũng được đặc biệt quan tâm.
Người nghiên cứu c̣n sử dụng
các phương pháp liên ngành như nghiên cứu địa
lư, khảo cổ học, dân tộc học và luật
học. Cuối cùng là tổng hợp lịch sử.
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN.
Luận án gồm 3 phần :
-
Phần mở đầu gồm 6 mục.
-
Phần kết quả nghiên cứu gồm 3 chương.
-
Phần kết luận.
sau cùng là danh mục công tŕnh của tác
giả, tài liệu tham khảo, chú thích, h́nh ảnh và
phụ lục (xem mục lục).
6. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN.
Luận án là công tŕnh tổng hợp, có
hệ thống, có tính đúc kết một cách mới
mẻ những công tŕnh
nghiên cứu, những tư liệu đă được
phát hiện từ trước đến nay, vừa đầy đủ
nhất, với một số tư liệu mới và những
luận cứ, luận chứng xác đáng góp phần đấu tranh bảo
vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và
Trường Sa.
Với những kinh nghiệm tập
hợp trên qui mô lớn những tư liệu trong và ngoài
nước hồi biên tập Tập San Sử Địa số
29, đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, người nghiên cứu đă
nỗ lực, có những khám phá mới về mặt
tư liệu chưa có ai đề cập tới như
tài liệu của chính người Trung Quốc, Thích
Đại Sán trong Hải Ngoại Kư Sự [116]
đă cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các
sản vật từ các tàu bị đắm ở Vạn Lư Trường Sa
tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hoặc
phát hiện thêm đoạn văn thứ 2 rất dài
viết về việc xác lập chủ quyền của
Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa ở thời Vua
Minh Mạng trong cuốn sách rất quan trọng có tính cách
luật lệ của triều Nguyễn. Đó là Khâm Định Đại Nam
Hội Điển Sựï Lệ, cùng tài liệu vẽ sơ
đồ các thuyền
buồm đóng theo truyền thống ở Cù Lao Ré
được sử dụng đi biển, trong đóù có
Hoàng Sa, Trường Sa c̣n
lưu giữ trong dân gian tại thôn Đông, xă Lư Hải,
Huyện Đảo Lư Sơn tức Cù Lao Ré khi xưa, do ông
Nguyễn Hạp vẽ [38].
Luận án cũng đă tŕnh bày
việc Việt Nam quản hạt từ đầu
thế kỷ XVII quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa thuộc về Quảng Ngăi khi là phủ, trấn,
tỉnh trong thời kỳ chưa bị các nước
ngoài xâm phạm. Sau đó thuộc quản hạt của
tỉnh Thừa Thiên rồi hiện thuộc Đà
Nẵng đối với
Hoàng Sa và Bà Rịa Vũng Tàu, rồi Phú Khánh , Khánh Hoà
đối với Trường Sa.
Cũng trong thời kỳ chưa có sự xâm phạm
của nước ngoài, vua, triều đ́nh Việt Nam
(thời Minh Mạng) đă tuyên bố khẳng định
Hoàng Sa, Trường Sa thuộc cương vực
hiểm yếu của
Việt Nam. Luận án cũng
đi sâu, tŕnh bày một cách hệ thống những
hoạt động mang tính nhà nước, xác lập
chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đội Hoàng
Sa (địa bàn ra đời, thời gian hoạt
động, nhiệm vụ, tổ chức và nội dung
hoạt động khoảng 17 trang), cũng như
đội Bắc Hải hoạt động dưới
sự kiêm quản của đội Hoàng Sa trong khu vực
phía Nam của Biển Đông tức quần đảo
Trường Sa và vùng phụ cận (Côn Đảo, Hà Tiên).
Luận án cũng đi sâu vào các hoạt động mang
tính nhà nước rất cao là thủy quân suốt thời
Nhà Nguyễn bắt
đầu năm 1816, trở thành lệ hàng năm thời
Minh Mạng thứ 17 (1836), với những hoạt
động cắm cột mốc, bia chủ quyền xây
dựng chùa miếu, trồng cây tại Hoàng Sa và
Trường Sa.
Từ năm 1909, Hoàng Sa bắt
đầu bị Trung Quốc
và sau đó bịø các nước khác xâm phạm chủ
quyền, luận án tŕnh bày các chính quyền ở Việt
Nam có nhiệm vụ quản lư Hoàng Sa và Trường Sa
chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của ḿnh
và luôn luôn củng cố, bảo vệ chủ quyền
của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Tác giả c̣n phân tích về giá trị pháp lư của sự xác
lập chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Tác giả
đưa ra luận điểm, luận cứ và luận
chứng về sự chiếm
hữu thật sự, hoà b́nh và thực thi chủ quyền
một cách liên tục, tại quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa. Tác giả phản bác lại những
luận điểm sai trái biện minh cho sự xâm phạm
của nước ngoài như của Trung Quốc về
sự phát hiện sớm nhất, kinh doanh sớm nhất,
quản hạt sớm nhất hoặc luận điểm
vô chủ và địa lư kế cận của các
nước khác ở Đông Nam Á. Tác giả cũng gián
tiếp phản bác lại những phản bác của Trung
Quốc về tư liệu
Việt Nam hay các luận điểm của chính quyền
Việt Nam.
[end – NQH]