CHƯƠNG
1
C1.1 [start – DNLan – 1782
words]
VỊ TRÍ,
ĐỊA LƯ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA QUẦN
ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA .
1.1
.TÊN GỌI VÀ VỊ TRÍ ĐỊA LƯ CỦA QUẦN
ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA.
Trước đây trong một thời
gian dài, người Việt và người Phương Tây
đều tưởng ở giữa Biển Đông chỉ
có một quần đảo dài, đều gọi một
tên chung, rất nhất quán. Người Việt gọi là
Băi Cát Vàng (
) hay Cồn Vàng hoặc Hoàng Sa ( ). Hoặc có khi gọi
là Đại Trường Sa ( ) hay Vạn Lư
Trường Sa ( ).
Băi Cát (Kát) Vàng hay Cồn Vàng là gốc
từ chữ Nôm, Hoàng Sa gốc
từ chữ Hán, đều đồng nghĩa ( Sa = Cát,
Hoàng = Vàng; Trường = Dài; Đại = Lớn; Vạn Lư
= Vạn Dặm; Băi là chỗ đất nổi lên ở
ven hay giữa sông , biển; Cồn là g̣ đống nổi
lên ở giữa sông hay biển).
Danh xưng từ chữ
nôm"Cát Vàng" rất được thông dụng trong
dân gian, được dân gian đặt tên sớm. Tên gọi
từ chữ Hán
“Hoàng Sa” được giới nho sĩ dịch và viết
ra về sau.
Người Bồ Đào Nha, Ḥa Lan
gọi quần đảo là Parcel hay Pracel ( tiếng Bồ
Đào Nha, Parcel có nghĩa là đá ngầm - ám tiêu; xem Eduardo
Pinheiro, Dictionário Da Língua
Portuguesa, Porto, Tipografia Sequeira, L.DA, 1948, tr.1042) vào đầu
thế kỷ XVI; khi ấy người Phương Tây
chưa biết đến các
đảo ở phía Nam mà sau này gọi là Trường Sa;
trên bản đồ thường ghi”I de Pracell”như bản
đồ Bartholomen Velho (1560), bản đồ Fernao Vaz
Dourado (1590).,bản đồVan Langren (1595)…
Người
Pháp, Anh gọi là Paracel vào thế kỷ XVII, XVIII trên các bản
đồ hàng hải.
Măi đến năm 1787-1788, khi
đoàn khảo sát Kergariou Locmaria xác định rơ ràng và
chính xác vị trí của quần đảo Paracel như hiện
nay, người Phương Tây mới bắt đầu
phân biệt quần đảo Paracel ở phiá Bắc với
quần đảo ở phía Nam mà sau này đến thập
niên 40 trong thế kỷ XX người Pháp mới gọi là Spratly(1.1) chỉ
chung cho quần đảo Trường Sa .
C̣n đối với người
Việt, từ đầu thế kỷ XVIII đă kiểm
soát vùng Biển Đông tới
tận Hà Tiên, như Lê Quư
Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục đă cho biết Đội
Bắc Hải trực thuộc Đội Hoàng Sa đă phụ
trách riêng các đảo phía Nam
của Bắc Hải và tới tận Côn Lôn, Hà Tiên. Tuy sang
thế kỷ XIX, đă thấy địa danh Vạn Lư
Trường Sa ở phía Nam ghi cùng với Hoàng Sa ở phía
Bắc trong Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ,
song vẫn chưa phân biệt thật rơ rệt mà vẫn
chỉ chung một quần thể.
Ngay thời Ngô Đ́nh Diệm năm 1956 cũng thể hiện
khái niệm “hai quần đảo là một” khi trong văn
bản ghi Hoàng Sa chỉ cả hai quần
đảo Paracel và Spratley.
Một điều hết sức
đặc biệt là có sự nhất quán hết sức rơ
ràng giữa danh xưng quần đảo tên Việt và tên
Phương Tây, khi Giám Mục Taberd ghi rất rơ ràng ở bản
đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ với
hàng chữ: Paracel seu Cát Vàng . (Tiếng
Latinh seu = hoặc là). Cũng chính Giám mục Taberd đă viết Paracels được người
Việt gọi là Cát Vàng trong cuốn Univers, Histoire et
Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions, Moeurs et Coutumes (1833).
Điều này không hề có ở Trung Quốc cũng
như bất cứ nước nào khác. Chỉ ở Việt
Nam mới chắc chắn Cát Vàng hay Hoàng Sa chính là Paracel do
Phương Tây đặt tên.Chính điều này là bằng
chứng rất rơ ràng người Phương Tây ít ra từ
đầu thế kỷ XIX đă xác nhận Paracel chính là
Cát ( Kát) Vàng tức Hoàng Sa của Việt Nam.
Thật khác với
người Phương Tây hay Trung Quốc, tên gọi
được đặt hai quần đảo này chỉ
thuần túy do nhu cầu hàng hải,tên gọi Hoàng Sa
được người Việt đặt do việc
xác lập chủ quyền ở hai quần đảo này,
bởi đồng thời “Hoàng Sa “dùng để chỉ
tên một tổ chức do nhà nước thành lập khai
thác, kiểm soát, làm chủ các hải đảo mang tên
“Hoàng Sa”. Như thế bản thân tên gọi”Hoàng Sa”là bằng
chứng cho sự xác lập cũng như thực thi chủ
quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng
Sa.
Quần đảo Hoàng Sa &
Trường Sa nằm trong Biển Đông. Đă từ
lâu, người Việt đă nói đến Biển
Đông trong ca dao tục ngữ: “Thuận vợ, thuận
chồng, tát Biển Đông cũng cạn” hay “Dă tràng xe cát
Biển Đông”. Người Trung Hoa thường gọi
là Nam Hải, song cũng tùy theo từng thời kỳ lịch
sử người Trung Hoa đă tên gọi khác nhau như biển Giao
Chỉ ( Giao Chỉ Dương). Ngoài ra, ven tỉnh Quảng
Đông, người Trung Hoa c̣n gọi là Việt Hải,Việt
Dương.
Các nhà hàng hải
Phương Tây từ thế kỷ XVI thường gọi
là biển Champa (Ciampa), hay biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa. Cũng
như người ta thường gọi biển kế cận
Ấn Độ là Ấn Độ Dương. Song chẳng
bao giờ Ấn Độ
Dương là của Ấn
Độ cũng như
Biển Trung Hoa là của Trung Hoa cả. Đúng ra, Biển
Đông bao quanh hầu hết các nước Đông Nam Á
như Việt Nam, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore,
Thái Lan, Campuchia, nên phải gọi là Biển Đông Nam Á mới
đúng.
Từ nhiều thập
niên qua, đă có nhiều nhà khoa học cố gắng giải
thích sự h́nh thành nền văn hóa hàng hải của dân
Việt nói riêng và của dân Đông Nam Á nói chung, có những
sắc thái hoàn toàn khác với văn hoá lục địa
Trung Hoa. Một số lư thuyết được tóm tắt
như sau:
Chrester Norman cho rằng nền Văn Minh Ḥa B́nh được tạo
dựng trong thời gian lục địa Sunda bị ngập
nước. Khi đó Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái
Lan lúc trước là hai vùng đồng bằng trũng. Lư
thuyết Norman cho rằng một số dân Đông Nam Á khởi
sự trước hết bằng cuộc sống ở
duyên hải, sau này hội nhập với dân cư vùng cao
nguyên, nhưng rồi lại trở về vùng đồng
bằng gần biển, sau nữa phát triển về hàng hải
(“The Hoabinhian and After: Subsistence Patterns in Southeast Asia during the
Late Pleistocene and Early Periods”,World
Archaecology 2, No.3, 1971, pp 300-320). [107]
Wilheim G.Solheim cho rằng 6000 năm trước, dân Đông Nam Á đă
mạo hiểm ra khơi. Gió băo và hải lưu của Biển
Đông và Thái B́nh Dương đă cuốn trôi một số
người tới Nhật Bản, trong khi các nhóm khác bị
quét sang Philippines, Indonesia, Malaysia. Tiếp theo, những toán
dân chúng di chuyển tới các đảo ở ngoài khơi
Thái B́nh Dương và sang Madagascar.
Cũng theo Solheim, Biển
Đông thời cổ c̣n là nơi phát sinh những
đường hàng hải giao tiếp với các nơi ở
dọc biển Á Châu, Âu Châu, Phi Châu và cả Mỹ Châu nữa.
Solheim lư luận rằng chỉ có sự kiện Đông Nam
Á giữ vai tṛ trung tâm phân tán như trục một cái bánh
xe tỏa nan hoa ra khắp nơi mới giải thích
được hiện tượng lịch sử là tại
sao các chủng tộc khác biệt của loài người sống xa cách nhau trên thế giới lại
có nhiều sự tương đồng về sinh hoạt
văn hoá như vậy (“World Ethnographic Sample...A Possible
Historical Explanation”,American
Anthropologist, 70, 1968, p569). [107]
Nhà ngữ học Pháp Paul Rivet đă có nhiều cuộc nghiên cứu và kết
luận rằng: “Từ Đông Nam Á, một thứ ngôn ngữ
đă được truyền bá đi bằng đường
hàng hải đến Nhật Bản, Tasmania, Địa
Trung Hải, Phi Châu và Mỹ Châu”(Sumerien et Océanien, Collection Linguistique, Paris,
1929).(h́nh 1.1) [107]
Carl Sauer duyệt xét những
biến chuyển về địa lư Biển Đông, ư thức
tầm quan trọng của ngư nghiệp và hàng hải
trong tiến tŕnh văn minh Đông Á thời cổ, khác biệt
hẳn với các nơi khác trên thế giới. V́ Biển
Đông có hai vụ gió mùa, nên việc hải hành viễn
duyên khi đi cũng như khi về rất tiện lợi.
Sự trao đổi hàng hóa nâng cao kỹ thuật chế tạo
phẩm vật. Trước đây 2500 năm, trống
đồng chính là thành tích rơ ràng nhất minh chứng khả năng hàng hải
của dân Lạc Việt.(Agricultural Origins and Dispersals,
Series Two, New York, 1952, pp24-25)[ 107 ]. Những hoa văn nhiều
h́nh thuyền trên trống đồng, thạp đồng
thời đại Đông Sơn, thời đại Hùng
Vương đă minh chứng hùng hồn dân Việt thời
cổ đă coi trọng phương tiện đi lại
bằng thuyền như thế nào!
Có những dự đoán của
các nhà khoa học, chừng một vài thiên kỷ sắp
đến, mực nước Biển Đông sẽ bắt
đầu rút trở xuống. Căn cứ vào mực
nước biển lên xuống trong quá khứ, nếu không
có ǵ thay đổi, trong ṿng dăm ba ngàn năm tới, cả
Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan sẽ trở thành
khô cạn, Biển Đông trở thành biển nội địa,
đường hàng hải quốc tế không c̣n qua Biển
Đông nữa (Xem bản đồ của National Geographic, March, 1971) .
(h́nh 1.2, h́nh 1.3) [107]
Hai quần đảo
cách nhau khoảng 500km, trải dài từ Bắc xuống Nam
khoảng 11 vĩ độ, từ vĩ độ 17o 05B
xuống 6o20’9’’B, từ Tây sang Đông khoảng 7 kinh
độ, từ kinh độ 110o Đ đến
kinh độ 117oĐ. Cả hai quần đảo
này gồm nhiều đảo, đá, băi cạn có nguồn
gốc san hô. Tổng diện tích phần thường xuyên
nổi lên mặt nước của mỗi quần đảo
khoảng hơn 10km2. Tuy hai quần
đảo cách xa nhau song mỗi
quần đảo lại có một số đảo gần
miền bờ biển đất liền nhô ra biển của
Việt Nam tức vùng đất từ mũi Ba Làng An
đến mũi Kê Gà (từ
Quăng Ngăi đến B́nh Thuận). Vị trí này khiến dân từ
Quảng Ngăi đến B́nh Thuận có mối liên hệ lâu
đời với hai quần đảo trên mà người
Việt trong một thời gian dài đă coi gộp chung
là một như chúng ta đă biết hoặc
gọi là Hoàng Sa, hoặc gọi là Vạn Lư Trường
Sa ( Xem h́nh 1.4, 1.5, 1.6).
[end – DNLan]
C1.2 [start – Thanh Dang –
2044 words]
1.2 QUẦN ĐẢO HOÀNG
SA
Quần đảo
Hoàng Sa nằm trong một phạm vi rộng khoảng
15.000km2 , giữa kinh tuyến 111 độ Đ
đến 113 độ Đông, khoảng 95 hải lư (1 hải
lư = 1,853 km), từ 17o05’ xuống 15o,45’độ
vĩ Bắc, khoảng 90 hải lư; xung quanh là vùng biển có độ
sâu hơn 1000m, song giữa các đảo có độ sâu
thường dưới 100m.
Quần
đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng
Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và một phần Quảng
Ngăi.
Về
khoảng cách với đất liền, quần đảo
Hoàng Sa nằm gần đất liền Việt Nam hơn
cả:
Từ
đảo Triton đến Mũi Ba Làng An (Cap Batangan:15độ
vĩ B, 108độ 6’ kinh Đ), tức đất liền
lục địa Việt Nam đo được 135 hải
lư , cách Cù Lao Ré chỉ có 123 hải lư, trong khi đó khoảng
cách đảo gần nhất tới bờ đảo Hải
Nam xa tới 140 hải lư
(đảo Hoàng Sa-Pattle:16 độ vĩ B, 111độ6’
kinh Đ và Ling-Sui hay Leong Soi : 18độ vĩ B, 110 độ
03 kinh Đ); nếu tính tới
đất liền lục địa Trung Hoa c̣n xa hơn
nhiều, tối thiểu là 235 hải lư . (h́nh 1.7 )
Đoạn bờ biển từ Quảng
Trị chạy dài xuống tới Quảng Ngăi đối
mặt với các đảo Hoàng Sa luôn hứng gió Mùa
Đông Nam hay Đông Bắc thổi vô, nên thường tiếp
nhâïn các thuyền bị băo làm hư hại ở vùng biển Hoàng Sa ( h́nh 1.8). Các vua chúa Việt
Nam hay chu cấp phương tiện cho các thuyền bị
nạn ấy về nước, nên họ thường bảo
nhau t́m cách tạt vào bờ biển của Việt Nam để
nhờ cứu giúp. Chính v́ thế, Hoàng Sa từ rất sớm
đă được người Việt biết tới,
hết sức quan tâm, cùng xác lập và thực thi chủ
quyền của ḿnh.
Trong
khoảng 30 đảo, đá, băi, cồn, ḥn trên, hiện
có 23 đă được đặt tên, gồm 15 đảo,
3 băi, 3 đá, 1 cồn, 1 ḥn.
Các đảo trên không cao, cao nhất là Đảo Ḥn Đá
(50 feet), đảo thấp nhất là Đảo Tri Tôn (10
feet). Các đảo chính gồm
2 nhóm:
- Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent
group) ở Tây Nam.
-
Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group) ở
Đông Bắc.
1.2.1 Nhóm Lưỡi Liềm:
Nhóm Lưỡi Liềm
c̣n gọi là Trăng Khuyết hay Nguyệt Thiềm, theo
như Sơn Hồng Đức nếu nh́n từ máy bay xuống , nhóm đảo này trông h́nh như
chiếc bánh “croissant” châu đầu vào nhau. Có 7 đảo
chính và vô số mỏm đá:
. Đảo
Hoàng Sa (Pattle, Shanhu Dao) (h́nh 1.9, đảo Hoàng Sa) [Tập San sử
Địa số 29]
Tuy là đảo chính nhưng
không phải là đảo lớn nhất, có vị trí quân sự
quan trọng nhất cho việc pḥng thủ bờ biển
Việt
Đảo
nằm trên tọa độ 16 độ 32,3 vĩ B ,
111độ 35,7 kinh Đ, h́nh bầu dục, dài khoảng
hơn 900m, rộng khoảng gần 700m, diện tích chừng
0,3km2 (30ha) [27, tr.21]gồm cả ṿng san hô bao quanh.
Trước ngày 19 tháng 1 năm 1974,
ngày Trung Quốc xâm chiếm, đảo này đă được
Việt Nam xây dựng căn cứ quân sự, nhà cửa,
đài khí tượng, hải đăng, miếu thờ
Bà, cầu tàu, bia chủ quyền. Cho đến ngày Trung Quốc
xâm chiếm, bia chủ quyền vẫn
c̣n gịng chữ như sau: “République FranÇaise - Empire d’Annam-Archipel des Paracels”. Về Đông Bắc
Đảo vẫn c̣n vài ngôi mộ binh lính thời Nhà Nguyễn.
Phía Tây
. Đảo
Hữu Nhật (Robert, Canquan Dao hay
Đảo mang tên suất
đội thủy quân Phạm Hữu Nhật được
vua Minh Mạng phái
ra Hoàng Sa đo đạc thủy tŕnh, vẽ bản
đồ vào năm 1836.
Phía Nam đảo Hoàng
Sa cách độ 3 hải lư, h́nh bàu tṛn, đường kính
800m, chu vi 2000 m, diện tích khoảng 0.32km2 (32ha)
[17,tr.20] có ṿng đai san hô bao ngoài xa, giữa là vùng bể lặng.
Nằm ở tọa độ 111độ344’kinh Đ,
16độ 30’60 vĩ B . Chung
quanh đảo cây cối um tùm, chính giữa là ḷng chảo
không sâu cho lắm. Biển quanh đảo
có nhiều rong biển, phủ kín cả mặt biển.
Nơi đảo này v́ không người ở, nên con vít thường lên
bờ đẻ la liệt từ tháng 3 đến tháng 8 âm
lịch.
. Đảo
Duy Mộng (Drummond, Jinquing Dao)
Đảo
ở phiá Đông Nam đảo
Hữu Nhật, phía Đông Bắc đảo Quang Hoà, nằm
trên tọa độ 111 o 44’kinh Đ,16 o 28’
vĩ B, cũng do san hô cấu tạo thành, băi san hô ra xa
đảo, nhô lên khỏi mặt nước khoảng 4m.
Đảo h́nh bầu dục, diện tích khoảng 0,41km2(41ha) [17,tr.21] không có loại cây
lớn, chỉ toàn loại cây nhỏ. Giữa
đảo là vùng đất trống, có thể định
cư được. Đảo có một con lạch
nhỏ, có thể dùng ghe nhỏ vào sâu trong nội địa.
Tàu có thể neo
cách đảo 200m. Có nhiều chim biển và con vít sống trên
đảo.
. Đảo
Quang Ḥa (Duncan, Chenhang Dao) (h́nh 1.16)
Đảo nằm trên toạ độ
111o42’kinh Đ, 16o 26’ vĩ B cũng do san hô
tạo thành, là đảo lớn nhất trong nhóm đảo
Lưỡi Liềm (Crescent Group), Chung quanh đảo là băi
cát mầu vàng (hoàng sa hay cát vàng).
Ṿng san hô lan ra rất xa khỏi b́a đảo.
Cạnh đảo lớn c̣n có những đảo
nhỏ, nối liền nhau bằng băi cát dài. Một vài bản đồ địa chất ghi
Quang Hoà thành hai đảo Quang Hoà Đông và Quang Hoà Tây.
-
Quang Hoà Đông
có rừng cây nhàu, một loại cây dùng để làm thuốc
thường thấy ở Trung Bộ và Nam Bộ Việt
Nam và cây phosphorite mọc ở
phía Tây của đảo, nhiều cây cao tới 5 m. Phần
đảo phía Đông trơ trụi chỉ có dây leo sát mặt
đất.
-
Quang Hoà Tây là một
đảo nhỏ, gần h́nh tṛn, chu vi 1000m, chỉ bằng 1/10 đảo
Quang Hoà Đông, khoảng 0,09 km2 (9ha), cùng có những loại cây như ở
đảo Quang Hoà Đông nhưng chỉ cao khoảng 3m.
. Đảo
Quang Aûnh ( Money
Đảo nằm ở trên toạ
độ 1110 36’kinh Đ, 1600 27’ vĩ B do
san hô tạo thành, nhô lên mặt nước độ 6 m,
nơi cao nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm. Chung quanh đảo bờ biển có nhiều
đá ngầm sắc nhọn rất nguy hiểm, tàu lớn
không thể cặp neo được. Các
tàu lớn phải neo ở ngoài khơi, muốn vào đảo
phải sử dụng thuyền nhỏ. V́ địa thế hiểm trở và trên đảo
không có nước ngọt, nên ít vết chân người lui
tới.
Đảo mang tên Phạm Quang Aûnh,
một đội trưởng Hoàng Sa được vua
Gia Long sai đo đạc thủy tŕnh ở Hoàng Sa năm
1815, hiện có hậu duệ và nhà thờ họ ở Cù
Lao Ré.
Đảo h́nh bầu dục,
hơi tṛn, chu vi khoảng 2.100 m, diện tích khoảng 0,3 km2
(30 ha) [17,tr.21] Có một số cây lớn mọc ở giữa
đảo cao tới 5 m. Ở phía ngoài của đảo
có các cây phosphorite và một loại cây khác giống cây mít
không có trái.
Nhóm đảo Lưỡi Liềm
ngoài 5 đảo trên c̣n 4 đảo nhỏ như đảo
BaBa (Hoàn Thử, 1110 40 kinh Đ, 160 36 vĩ B),
đảo Ốc Hoa (Toàn Phủ,
1110 38 kinh Đ, 160 36 vĩ B), đảo
Lưỡi Liềm (Crescent Island, Đảo Thạch, 1110
46 kinh Đ, 160 34 vĩ B), đảo Xà
Cừ (1110 42 kinh Đ, 160 33 vĩ B
), và các đá như đá Hải Sâm (Antelope Reef, 1110 34 kinh Đ, 160 29 vĩ B),
đá Lồi (Discovery Reef, Yuzhuo Jiao, 1110 40 kinh Đ, 160 14 vĩ B),
đá Chim Yến (Vuladdore Reef, 1120 04 kinh Đ, 160
21 vĩ B), đá Bạch Qui (Passu Keah Reef,Panshi Yu, 1110 455
kinh Đ, 160 03 vĩ
B).
1.2.2 Nhóm An Vĩnh (1.2) (Amphitrite Groupe, (1.3)
Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm
các đảo tương đối lớn và cao nhất
thuộc quần đảo Hoàng Sa, cũng
là các đảo san hô lớn nhất của Biển
Đông.Đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm.
.Đảo Phú Lâm (
Đảo
nằm ở toạ độ 112 20 kinh Đ, 160
50 vĩ B. Đảo lớn nhất trong quần đảo,bề
dài 3.700m và ngang 2.800m [31, tr.185].Trên đảo cây cối
um tùm, có vài cây dừa, nên gọi là Phú Lâm. Ở đây chim hải
âu sinh nở từ thế kỷ này sang thế kỷ khác,
để lại một lớp guano (phân đen) dày tới
50 cm. Đây là đảo duy nhất từ xa có thể nh́n
thấy được.
Đảo có cầu tàu lớn, sân bay,
đài kiểm báo và nhiều phương tiện quân sự
khác.
. Các đảo khác
Tất cả các đảo, băi thuộc
quần đảo Hoàng Sa đều ở dưới vĩ tuyến
17, trừ Đá Bắc (North Reef, Beijiao, 1110 381 kinh
Đ, 170 05 vĩ B), tại băi này có nhiều xác tàu
bị đắm nhiều nhất. Cụm An Vĩnh c̣n có
đảo Cây (
Đảo
Bắc (
Đảo
Đảo
Giữa (
Đảo
Đá (
Cồn
Cát Tây (West Sand, Xi Shazhou, 1120 12 kinh Đ, 160 587
vĩ B)
Cồn
Cát
1.2.3 Nhóm Linh
Côn
Nằm
về phía cực Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đảo nằm vào kinh độ 1120
44 kinh Đ,
vĩ độ 160
40.
Các đảo thuộc nhóm này không mấy
quan trọng, chỉ là những mỏm san hô nhấp nhô trên
mặt nước biển.
Linh Côn là tên một chiếc tàu bị nạn
ở đây vào đầu thế kỷ XX. Lớn nhứt là đảo Linh Côn, diện
tích chừng 1,62 km2, trên đảo
có nước ngọt. Vùng san hô bao quanh kéo dài
về phía
Phía
Tây nhóm đảo Linh Côn, c̣n có Đá Tháp (
Ngoài
ra ở cực
[end – Thanh Dang]
C1.3 [start – lmhung – 1908
words]
1.3 QUẦN ĐẢO
TRƯỜNG SA. (H̀NH 1.18)
Người
Pháp gọi là Archipel des ưles Spratly, người Anh, Mỹ gọi là
Quần
đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa hiện
nay tính đến đảo gần nhất vào khoảng
350 hải lư, đảo xa nhất 500 hải lư, cách Vũng
Tàu 305 hải lư, Cam Ranh 250 hải lư, đảo Phú Quốc
240 hải lư, cách B́nh Thuận (Phan Thiết) 270 hải lư.
Quần
đảo trải dài từ vĩ độ 60 2 vĩ
B tới 110 28 vĩ B,
(1.4) từ kinh độ 1120 Đ đến 1150Đ
trong vùng biển chiếm khoảng 160.000km2 -
180.000km2 . Biển tuy rộng nhưng
diện tích các đảo, đá, băi nổi lên khỏi mặt
nước lại rất ít, chỉ tổng cộng khoảng
11 km2.
Về
số lượng đảo theo thống kê của Tiến
Sĩ Nguyễn Hồng Thao (Vụ Biển thuộc Ban Biên
Giới Chính Phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo,
đá, băi (1.5) không kể 5 băi
ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam (gồm
băi Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc
Nguyên, Tứ Chính) (1.6).
Theo
thống kê của Pháp năm 1933 gồm 9 đơn vị
chính và các đảo, đá, băi phụ cận.
1. 3.1 Cụm
Song Tử gồm 2 đảo, 2 đá, 2 băi :
·
Đảo
Song Tử Đông, đảo Song Tử Tây.
Song
Tử Đông (Northeast Cay, Pei Zi Dao hay Pei -tzu Tao (Trung Quốc),
Parola Isl. (Phi), 11027 vĩ B,
1140 21 kinh Đ)
Song
Tử Tây (Southwest Cay, Nan Zi Dao hay Nan -tzu Tao (Trung Quốc), Pugad Isl., (Phi) 110255
vĩ B, 1140 20 kinh Đ)
Hai
ḥn đảo này như sinh đôi nằm ở cực Bắc
của quần đảo Trường Sa, ngang vĩ độ với Phan
Rang (Ninh Thuận). Chính v́ có vị trí này mà
đội Bắc Hải hoạt động ở vùng này
từ cuối thế kỷ XVII lấy xuất đinh từ
tỉnh B́nh Thuận. Trên đảo có những cây cao trung b́nh, nhiều
phân chim có thể chế biến thành phân bón. Ṿng
quanh hai đảo này, về phía Đông và
Song
Tử Đông hơi tṛn(
h́nh.1.19), diện tích gần 20 acres, dài 900m , rộng 250m, cao
độ 3m, có nhiều băi cát và san hô xung quanh, nhiều cây
cối, một ít dừa. Năm 1963, Việt Nam Cộng Hoà
có dựng một bia chủ quyền (h́nh 1.20).
Song
Tử Tây h́nh lưỡi liềm (hinh 1.21), diện tích nhỏ
hơn Song Tử Đông, dài 700m, rộng 300m, có nước
ngọt, có một vườn dừa và nhiều cây nhỏ. Có
tháp rađa thời Việt Nam Cộng Hoà. Hiện Quân
Đội Nhân Dân Việt
Cụm
Song Tử c̣n có Đá Bắc (North Reef , Pei Jiao hay Tung - pei
-Chiao (Trung Quốc), 11028 vĩ B, 114023 kinh
Đ), Đá Nam (South Reef, Nan Jiao hay Nai -lo - Chiao, 11023
vĩ B, 1140 18 kinh Đ)
Phía
Đông cụm Song Tử c̣n có băi cạn Đinh Ba ở
phía Bắc (Trident Shoal, Yong deng Ansha hay Yung -teng An - sha (Trung
Quốc ), TatLong, Tulis Shoal (Phi), 11020, 1140 42
kinh Đ) và băi Núi Cầu (Lys Shoal, Lesi Ansha (Trung Quốc ),
Bisugo Shoal (Phi), 110205 vĩ B, 1140 35 kinh Đ
ở phía Nam.
1.3.2 Cụm
đảo Thị Tứ
Ở phía
-Đảo
Thị Tứ (ThiTu Island, Zhong Ye Dao hay Chung -Yeh Tao (Trung Quốc),
Pagasa Isl (Phi), 110027 vĩ B, 1140 17 kinh Đ).
Đảo nằm ở phía Đông Bắc của đảo
Trường Sa (Spratley) do san hô tạo
thành lẫn với cát trắng và đá vôi (h́nh 1.23).
Đảo
h́nh bầu dục, bề ngang 550m, dài 700m, có giếng nước
ngọt. Trên đảo có cây mù u, cây bàng, nhiều cây leo chằng chịt. Chung quanh
đảo có rất nhiều rong biển và các băi đá ngầm.
Quanh đảo có nhiều cá, đồn đột,
rong biển.
(Quân
binh Philippines bắt đầu đổ bộ năm 1968
song chiếm đóng hẳn năm 1970, xây phi đạo nối
dài ra biển, xây dựng thành căn cứ chính).
-Phía
Bắc đảo Thị Tứ gồm Đá Hoài Aân (Xandi,
11003 vĩ B, 1140 134 kinh Đ), đá Tri Lễ
(Sand Cay, 110037 vĩ B, 1140 154, đá Trâm
Đức (110045 vĩ B, 1140 22kinh
Đ),đá Vĩnh Hảo (110045 vĩ B, 1140 22
kinh Đ), đá Cái Vung (110079 vĩ B, 1140 115
kinh Đ).
-Phía
Nam đảo Thị Tứ là đá Xu Bi (Subi Reef, Zhu Bi Jiao,
Zamora Reef (Phi), 10054 vĩ B, 1140 06 kinh Đ),
cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lư (đă bị
Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chiếm đóng năm 1988) .
1.3.3 Cụm
đá Loai Ta
Ở
phía Đông cụm Thị Tứ, gồm đảo Loai Ta
phía dưới và cồn san hô Lancan hay An Nhơn (Lankian Cay,
Yang xin Zhou, Panata, 10045 vĩ B, 1140 33 kinh
Đ) ở phía Đông. Phía Bắc cụm là đảo Loai
Ta (100407 vĩ B, 1140 248 kinh Đ, Loaita
Island, Nan Yue Dao (Trung Quốc), Kota (Phi) (h́nh 1.24) ). Đảo
h́nh tṛn, đường kính 300m, cao chừng 2 m, nhiều
cây lớn mọc quanh đảo.
Phía Bắc đảo có nhiều cây dừa.
Ṿng quanh đảo có nhiều băi cát trắng
tạo nên vẻ đẹp nên thơ, Có giếng nước
ngọt nhưng rất ít nước.
Cụm
c̣n có đá An Lăo (Menzies Reef, Mong zi Jiao (Trung Quốc), Lakandula
Reef, 110083 vĩ B, 1140 48 kinh Đ), băi
Đường (Chang tan (Trung Quốc), 110 vĩB,
1140 42 kinh Đ), băi An Nhơn Bắc (đá cuội)
(Ku gui Jiao (Trung Quốc), 100465vĩB, 1140 34 kinh Đ) băi Loại Ta (Loaita Reef,
Shuan huan Shazhou, 100422 vĩ B, 1140 210 kinh
Đ), băi Loại Ta Nam (Loaita Bank, Shuan huan Shazhou, 100427
vĩ B, 1140 195 kinh Đ).
Phía Đông cụm Loại Ta c̣n có đảo
Dừa và Đá Cá Nhám.
1.3.4 Cụm
đảo Nam Yết hay Ti Gia
+ Ở
phía Nam cụm Loại Ta, nằm kết một ṿng san hô Tizard Bank, gồm đảo
Nam Yết (Namyit Island, Hong xiu dao, 100 11 vĩ B, 1140
217 kinh Đ), đảo Sơn Ca (Sand Cay, Dungian shazhou,
100 227 vĩ B, 1140 285 kinh Đ), đảo
Ba B́nh (Itu Aba Island, Taiping dao, 100 228 vĩ B, 1140 217
kinh Đ), cùng băi Bàn Than (100 231 vĩ B, 1140 245
kinh Đ), đá Núi Thị (Petley Reef, Bolan jiao, 100 247
vĩB, 1140 348 kinh Đ), đá Eùn Đất (Eldad
Reef, Anda jiao, 100 21 vĩ B, 1140 41 kinh Đ),
đá Lạc (Meiji jiao, 100 102 vĩ B, 1140 148
kinh Đ), đá Gaven (Gaven Reef, Nan xun jiao, 100 127 vĩ
B, 1140 13 kinh Đ), đá Lớn (Great Discovery Reef,
Daxian jiao, 100 045 vĩ B, 1130 52 kinh Đ),
đá Nhỏ (Small Discovery Reef, Xiaoxien jiao, 100 015 vĩ
B, 1140 015 kinh Đ), đá Đền Cây Cỏ
(Western or Flora Temple Reef, Fulusi jiao, 100 147 vĩ B, 1140
375 kinh Đ). Cụm này có đảo rộng nhất của
Trường Sa là Ba B́nh và cao nhất là
đảo Nam Yết và nhiều lùm cây cao lớn nhất.
+Đảo
Nam Yết (NamYit Isl., Hong xiu dao (Trung Quốc), Binago (Phi), 10011vĩB,
1140 217 kinh Đ) (h́nh 1.25).
Đảo
lớn thứ hai sau Ba B́nh, song là ḥn đảo cao nhất
của quần đảo, ở phía Nam của cụm, h́nh
chữ C, dài khoảng 700m, rộng 250m, cao 4,7m (15ft) (sách
China's Boundaries của Ying Cheng Kiang (Illinois, 1984) ghi đảo
này cao tới 61ft, Ocean Year Book 10 (Chicago, 1993) ghi kể cả
cây cao 20m). Trên đảo có nhiều loại cây, nhiều nhất
là cây xú hương (cao hơn 3 m), cây nhàu (cao hơn 3m), mù u
(5m), dừa cao nhất (khoảng 12m) và nhiều giống
cây nhỏ, cỏ gai vùng nhiệt đới. Chim,
vít ở đây rất ít. Giếng nước
không ngọt hơi lờ lợ. Chung
quanh đảo có ṿng san hô và nhiều băi đá ngầm.
(Phía
Bắc đảo có cầu tàu, đối diện với
đảo Ba B́nh do Đài Loan chiếm đóng). Tại đây có công sự pḥng thủ kiên cố,
được đặt Bộ chỉ huy toàn thể quần
đảo của quân lính Việt Nam Cộng Hoà trước
1975. Năm 1975, quân đội nhân dân Việt
+
Đảo Sơn Ca (Sand Cay, Dungian shazhou, 100 227 vĩ B, 1140 285 kinh Đ).
Đảo
có h́nh giống chữ C, dài 391m, rộng 156m, cao 3m (so với
mực nước trung b́nh) (h́nh 1.26)
Đảo
có các loại cây như xú hương, bàng, chiếc bạc
và cỏ dại, dây leo mọc khắp
nơi. Trước 1975 đều có quân đội
Việt Nam Cộng Hoà chiếm đóng và sau đó được
Quân Đội Nhân Dân Việt
+
Đảo Ba B́nh (
Đảo
lớn nhất của quần đảo Trường Sa,
độ cao chừng 4m (13ft) thấp hơn Nam Yết một
chút; theo Niên Giám Đài Loan 1993, dài 1360m, rộng 350m, cao 3,8m,
diện tích 489.600m2 (gần 50 ha).
Có
điều kiện sinh hoạt tốt nhất, đất
đai mầu mỡ, trồng trọt
khoai ḿ, rau cải, chuối…Chung quanh có san hô, mặt nước
khá yên tĩnh, tiểu đĩnh có thể cập bến
khá tốt.
Năm
1933, với danh nghĩa "bảo hộ" Việt Nam,
Pháp đă cho quân chiếm đóng, thiết lập đài
quan trắc khí tượng mang số hiệu là 48919, do
World Meteorological Organisation cấp phát cùng với đài quan
trắc ởHoàng Sa (Pattle) mang
số hiệu 48860 và Phú Lâm mang số hiệu 48859 [11,41]. Tháng 12 năm 1946, Trung Hoa Quốc Gia chiếm đảo.
Sau đó họ rút quân về Đài Loan năm
1950. Khi anh em Cloma, người
Phía
Tây
[end – lmhung]
C1.4 [start – buu-long – 1960
words]
1.3.5 Cụm đảo Sinh Tồn
Ở phía
Ba ḥn đảo trên và một số ḥn đảo nhỏ nổi lên tạo thành một ṿng đai san hô có tên là "Union Reefs".
Trước 1975, do quân
đội Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ. Sau khi giải
phóng miền Nam, quân đội nhân dân Việt Nam trấn giữ các đảo Sinh
Tồn, Sinh Tồn Đông, Đảo Len, Đá Côlin. Năm
1988, xảy ra cuộc đụng độ với quân
Trung Quốc, 2 chiến hạm vận tải Việt
Nam bị ch́m, hơn 70 binh sĩ
bị mất tích. Quân Trung Quốc đổ bộ và
đóng trên đá Kennan và đá Gác Ma, nằm chen
kẽ với quân của Việt
1.3.6 . Cụm đảo Trường
Sa.
Ở về phía Nam và Tây Nam Cụm Sinh Tồn, trải dài theo chiều ngang, gồm có 3 đảo, các đá, băi : Đá Lát (Ladd Reef, Riji jiao, 80 385 vĩ B, 1110 405 kinh Đ), Đảo Trường Sa (Spartly Island, Nan wei dao, 80 384 vĩ B, 1110 55 kinh Đ) (h́nh 1.30), Băi Đá Tây (West Reef (Sand patch), Xi jiao, 80 52 vĩ B, 1120 14 kinh Đ), Đá Đông (East Reef, Dong jiao, Silangan Reef, 80 502 vĩ B, 1120 345 kinh Đ), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef, Hua yang jiao, 80 53 vĩ B, 1120 500 kinh Đ), Đá Tốc Tan (Alison Reef, Liumen jiao, 80 50 vĩ B, 1140 00 kinh Đ), Đá Núi Le (Coznwallis S. Reef, Nan hua jiao, 80 45 vĩ B, 1140 11 kinh Đ), Đá Tiên Nữ (Tennent Reef, Pigeon, Tian Ian jiao, 80 52 vĩ B, 1140 39 kinh Đ)
Cụm đảo Trường
Sa nằm phía Đông, kế cận các băi, đá thuộc thềm
lục địa Việt Nam như Phúc Tần, Huyền
Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính. Đảo
lớn nhất
là đảo Trường Sa ( h́nh 1.,29), người
Pháp gọi là đảo Băo Tố (Ile de Tempête). Có dạng h́nh tam giác cân mà cạnh đáy
hơi chệch về phía Bắc. Đáy dài 350m, hai cạnh
kia, mỗi cạnh 450m, cao độ ở phía Bắc là
3,5m, phía Nam là 2,1m so với mặt nước lúc nước
ṛng. Có khả năng thiết lập phi đạo.
Sau 1975, Việt
Không có cây lớn, nhiều nhất là nam sâm, có dược tính, các loại rau sam, muống biển. Có loại chim hải âu trắng, sơn ca, chim én. Có giếng nước ngọt, khá sâu, độ 3m, ngọt tốt 9/10, song lại có mùi tanh của san hô.
Trước
1975 có quân trú pḥng Việt Nam Cộng Hoà, có cầu tàu về
phía tây đảo. Sau khi tiếp quản, Quân Đội
Nhân Dân Việt
Ngoài ra c̣n có các đảo Trường Sa Đông (Central Reef, Zhong jiao, 80 55 vĩ B, 1120 21 kinh Đ), Đảo Phan Vinh (Pearson Reef, Bisheng jiao, 80 58 vĩ B, 1130 415kinh Đ).
1.3.7. Cụm đảo An Bang
Ở phía Nam cụm đảo Trường Sa (Spratley) gồm có 1 đảo và các băi, đá: Đá Ba Kè (Bombay Castle, Pongpo bao jiao, 70 56 vĩ B, 1110 440 kinh Đ), Băi Đất (Orleana Shoal, Aonan Ansha, 70 41 vĩ B, 1110 440 kinh Đ), Băi Đinh (Kinhston Shoal, Jin du ansha, 70 34 vĩ B, 1110 345 kinh Đ), Băi Vũng Mây (Jonhson Patch, Changpun ansha, 70 47 vĩ B, 1110 35 kinh Đ), Băi Thuyền Chài (Barque Canada Reef, Bai jiao, 80 10 vĩ B, 1130 18 kinh Đ), Đá Hà Tần (Lizzie Webr, Li xei jiao, 80 045 vĩ B, 1130 10 kinh Đ), Đá Tân Châu (100 505 vĩ B, 1150 51 kinhĐ), Đá Lục Giang (Hopp Reef, He jiao, 100 148 vĩ B, 1150 215 kinh Đ), Đá Long Hải (Livok Reef, Nan tang quan jiao, 100 105 vĩ B, 1150 17 kinh Đ), Băi Trăng Khuyết (Half Moon Shoal, Banyue jiao, 80 52, vĩ B 1160 16 kinh Đ) , Đá Công Đo (Commodore Reef, Siling jiao, 80 22 vĩ B, 1150 13 kinh Đ), Đá Kỳ Vân (Mariveles Reef, Nan hai jiao, 70 59 vĩ B, 1130 56 kinh Đ), Băi Kiệu Ngựa (Asdasier Reef, Andu jiao, 70 37 vĩ B, 1130 56 kinh Đ), Đá Hoa Lau (Swallow Reef, Dan Wan jiao, 70 24 vĩ B, 1130 40 kinh Đ), Đá Sắc Lốt (Royal Charlotts Reef, Huan lu jiao, 60 565 vĩ B, 1130 36 kinh Đ), Đá Louisa (Luisa Reef, Nan tong jiao, 60 209 vĩ B, 1130 154 kinh Đ).
Đảo duy nhất là đảo An Bang (Ambonay Cay, Anbo shazou, 70 522, 1120 542 kinh Đ). Đảo An Bang giống như một cái túi đáy nằm phía Đông và miệng thắt lại ở phía Tây. Đảo tương đối nhỏ và dài, chỉ rộng 20 mét so với chiều dài 200m, cao 2m so với mặt nước biển lúc nước ṛng (h́nh 1.30).
Ngoài những
cỏ dại rất thấp, không có cây cao bóng mát nào.
Trước 1975, đảo An Bang do quân đội Việt
Nam Cộng Hoà trú đóng. Sau 1975, quân đội
Nhân Dân Việt
1.3.8. Cụm đảo B́nh
Nguyên.
Cụm đảo ở về phía Đông, gồm đảo B́nh Nguyên (Flat island, Fei xin dao, 100 49 vĩ B, 1150 495 kinh Đ) và đảo Vĩnh Viễn (Nanshan island, Ma huan dao, 100 44 vĩ B, 1150 48 kinh Đ). Mỗi đảo diện tích khoảng 15 acres. Đảo Vĩnh Viễn dài chừng 580m, cao khoảng 2m, Đảo B́nh Nguyên thấp hơn, rất hẹp bề ngang.
Phía Nam gần đảo Vĩnh Viễn có Đá Hoa (100 32 vĩ B, 1150 432 kinh Đ), Đá Đít Kim - Sơn (100 325 vĩ B, 1150 472 kinh Đ), Đá Đin (100 30 vĩ B, 1150 421 kinh Đ), Đá Hàn Sơn (100 28 vĩ B, 1150 438 kinh Đ), Đá Pet (100 276 vĩ B, 1150 464 kinhĐ), Cồn san hô Giắc - xôn. Về phía Nam xa hơn nữa có Đá Vành Khăn (Mischief Reef, Mei ji jiao, 90 55 vĩ B, 1150 32 kinh Đ), Băi Cỏ Mây (2nd Thomas Shoal, Ren ai ansha, 90 44 vĩ B, 1150 515 kinh Đ), Băi Cạn Suối Ngà(1st Thomas Shoal, Xinyu jiao, 90 195 vĩ B, 1150 555 kinh Đ), Đá Bốc Xan (Boxall Reef, Pai she jiao, 90 355 vĩ B, 1160 095 kinh Đ), Băi Cạn Sa Bin (Sabina Shoal, Xian xin ansha, 90 45 vĩ B, 1160 29 kinh Đ). Phía Đông cụm đảo B́nh Nguyên và đảo Vĩnh Viễn có Đá Hợp Kim ( Hopkins Reef, Huo xing jiao, 100 49 vĩ B, 1160 06 kinh Đ) , Băi Mỏ Vịt (Hirane Shoal, An tang tan, 100 54, 1160 205 kinhĐ), Đá Ba Cờ ( Baker Reef, Pei she jiao, 100 43 vĩ B 5, 1160 10 kinh Đ), Đá Khúc Giác (Iroquois Reef, Feng lai jiao, 100 37 vĩ B, 1160 10 kinh Đ), Đá Bá, Đá G̣ Già (North Pennsylvania Reef, Yang ming jiao, 100 485 vĩ B, 1160 515 kinh Đ), Băi Cạn Nam ( Southern Bank, Nan fang gian tan, 100 28 vĩ B, 1160 42 kinh Đ), Đá Chà Và (Brown, 100 345 vĩ B, 1170 017 kinh Đ), Băi Cạn Nâu (Brown Bank, Dong tan 100 44 vĩ B, 1170 189 kinh Đ), Băi Cạn Rạch Vang (Templer Bank, Zhong xi tan, 100 40 vĩ B, 1170 165 kinh Đ), Băi Cạn Rạch Lấp (Carnatic Shoal, Hong shi ansha, 100 06 vĩ B, 1170 205 kinh Đ), Băi Cạn Na Khoai (Lord Auckland Shoal, Elan ansha, 100 205 vĩ B, 1150 165 kinh Đ).
Hiện quân Philippines chiếm đóng cả 2 đảo B́nh Nguyên và đảo Vĩnh Viễn và cho phá bỏ hầu hết khu vực bao quanh Băi Cỏ Rong, Băi Trăng Khuyết, Băi Kiều Ngựa. Trung Quốc từ 1995 cũng chiếm đóng đá ngầm Vành Khăn.
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN, THẢO MỘC CỦA QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ
TRƯỜNG SA.
Điều kiện tự
nhiên tuy thuận lợi song không phải là yếu tố quyết
định cho sự xác lập chủ quyền của Việt
Trước hết, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng Biển Đông, Ở đó, ngoài độ từ sai bằng zéro, độ sai lệch từ không thay đổi (hay thay đổi rất nhỏ), và c̣n nằm trong vùng xích đạo từ. Tại vùng xích đạo, gần vùng Côn Đảo, địa từ mới mạnh. Người Trung Quốc nhận rằng họ sáng chế kim chỉ nam, nhưng không hề biết những đặc tính về từ trường của Biển Đông. Như sách Cổ Trung Hoa ghi rằng vùng đất ma, họ kính ngưỡng cầu khẩn thần núi Linh Sơn vùng Varella (Việt Nam), họ sợ các đảo san hô ở Biển Đông, hút sắt lại, làm tàu thuyền của họ mắc cạn ở Biển Đông.
[end – buu-long]
C1.5 [start – NXM – 2347
words]
Mặt nước Biển Đông có độ cao tiêu chuẩn trong hệ thống Geoid, trong khi các biển khác có thể cao quá 90m, có biển thấp tới 80m. ,
Về địa chất,
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là những
ám tiêu san hô tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới
của Việt
Thềm lục địa
nếu theo quan niệm nằm trong khu vực có độ
sâu nước biển tới 200m, th́ thềm lục địa
ở vịnh Bắc Bộ lớn, Trung bộ nhỏ hẹp
lại, nhất là ở vùng mũi Varella, càng về phía Nam càng rộng. Nếu
theo quan điểm của Luật
Biển 1982 th́ với khoảng cách vùng hải phận 200 hải
lư, các băi san hô như Băi Tư Chính… nằm trong khu vực Thềm
Lục Địa Đặc Quyền Kinh Tế của Việt
Nam. Độ sâu của Biển Đông với
đường phân thủy 100m bao kín các vùng về phía Bắc
và phía Đông. (Nếu mực nước biển hạ
xuống chừng 600m - 700m, th́ Hoàng Sa sẽ dính vào Việt
Nam như một khối thịt liền và cách Trung Quốc
bằng một vùng biển nước sâu) Và như thế
quần đảo Hoàng Sa là một phần của Việt
Các sinh vật trên các
đảo và dưới biển quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa như rùa, đồi mồi, vít, đồn
đột, ốc tai voi, ốc hương đều
tương tự như các đảo ven biển Việt
Nam như đảo Cù Lao Ré. Khi ngư
dân Việt bắt cạn hết sinh vật ở đảo
gần bờ biển, tất họ phải t́m ra xa biển
như ở ngoài quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa. Theo nhà nghiên cứu La Fontaine [61, 209], các cuộc khảo
sát cho thấy các thú vật sống ở các đảo
Hoàng Sa và Trường Sa đều là các loài đă gặp ở
đất liền Việt Nam, có môi trường sinh sống
gần với Việt Nam hơn là Trung Hoa, các sinh vật ở
Hoàng Sa và Trường Sa không có nhiều liên hệ với
sinh vật ở Trung Quốc. Biển Đông cũng
như Việt
Tại Biển Đông không giống
như Thái B́nh Dương, có ḍng hải lưu chảy thay
đổi theo chiều gió mùa. Trong mùa gió Đông Bắc từ
tháng 9 đến tháng 3, hải lưu Biển Đông chảy
ngược theo chiều kim đồng
hồ (h́nh 1. 32). Ḍng nước biển chảy mạnh từ
Đài Loan qua Hoàng Sa vận tốc chừng
1 feet. Khi xuống ngang bờ biển Trung Bộ Việt
Quanh năm, hải lưu vùng Hoàng Sa và Trường Sa sẽ thay đổi chiều hai lần. Ḍng nước vùng Trường Sa không mạnh như ḍng nước vùng Hoàng Sa. Sau trận hải chiến năm 1988, các chiến hạm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc đánh ch́m, các thủy binh Việt Nam sống sót trên các bè nổi không trôi đâu xa v́ nước chỉ chảy chừng 1/4 đến 1/2 feet.
Vùng Biển Đông nhất
là Hoàng Sa thường xảy ra băo nhiệt đới hoặc
áp thấp nhiệt đới xuất hiện gần 2 quần
đảo sinh ra băo, hoặc băo từ Philippines thổi qua.
Đa số các cơn băo khởi sự từ phía Đông
Khi có băo xuất hiện
từ
Mỗi khi có triệu chứng
băo như vậy, các thuyền bè phải chạy nhanh về
phía
Cũng chính
do tàu tránh băo hay bị nạn rồi theo ḍng hải
lưu chảy tấp vào bờ biển như tŕnh bày trên ,
nên Việt
Những khảo sát về thảo mộc của La Fontaine, vào thập niên 40, 50 tại Hoàng Sa đă đi đến kết luận rơ ràng rằng không có loại thảo mộc nào là tại chỗ cả, tất cả từ vùng đất liền du nhập bằng nhiều cách. Cũng theo sự phân tích một cách khoa học của H. Fontaine và Lê Văn Hội trong "Contribution à la connaissance de la flore des ưles Paracels" (Khảo cứu Niên San Khoa Học Đại học Đường - Annales de la faculté des Sciences, Sàig̣n 1957, pp 133 - 137), th́ mỗi thảo mộc hiện có ở Hoàng Sa đều t́m thấy ở Việt Nam nhất là ở các tỉnh Trung Bộ. Người ta cũng thấy những cây như cây mù u, cây nhàu, cây bàng … ở Hoàng Sa, Trường Sa đều thấy có ở Cù Lao Ré hay những nơi khác dọc bờ biển Việt Nam
Thảo mộc ở
Hoàng Sa, Trường Sa có gốc ở Việt Nam không những
căn cứ vào khảo sát của các nhà khoa học mà chính sử liệu
thời Nguyễn như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên đệ II kỷ, quyển
104 cũng như Đai Nam Hội Điển Sự Lệ (1851), quyển 207, tờ 25b, Việt
Sử Cương Giám Khảo Lược (1876), quyển 4
của Nguyễn Thông đă viết rất rơ lệnh vua
Minh Mạng đă cho trồng nhiều cây cối, để
ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người ta sẽ
nhận biết, có thể tránh nhiều nạn mắc cạn.
Chính sự kiện triều đ́nh nhà Nguyễn, thời
vua Minh Mạng có chủ
trương trồng nhiều cây cối trên đă minh chứng
chủ quyền của Việt
1.5 TẦM QUAN TRỌNG
VỀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ VÀ TÀI NGUYÊN CỦA
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA DẪN ĐẾN SỰ XÂM PHẠM
CHỦ QUYỀN VIỆT
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong Biển Đông mà người Trung Hoa gọi là Biển Nam Hải, người Phương Tây thường gọi là Biển Nam Trung hoa, có tầm quan trọng về chiến lược quân sự.
Không có một vùng biển
nào trên Thế Giới với diện tích tương
đương 3/4 Địa Trung Hải mà lại có tầm
mức quan trọng về phương diện giao thông
như Biển Đông. Muốn
từ Ấn Độ Dương qua Thái B́nh Dương,
tàu thuyền phải chạy qua Biển Đông. Nếu đi ṿng sẽ tốn kém hơn và mất
thời gian nhiều hơn.
Biển Đông nằm ngay trên ngă tư
đường hàng hải quốc tế, nhất là lượng
hàng hoá quan trọng như dầu hoả, khí đốt
đến Nhật đều qua ngả này. Nếu lấy giữa Biển
Đông làm trung tâm nh́n ra thế giới:
-Trong ṿng bán kính 1500 hải lư có các cảng quan
trọng như Bangkok, Rangoon, Calcutta, Singapore, Djakarta, Manila,
Taipei, Hongkong, Shangai, Nagasaki.
-Trong ṿng 2500 hải lư, có các cảng quan trọng
như Madras, Colombo, Bombay, Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul,
Beijing...bao trùm hầu hết lănh thổ các nước
đông dân nhất thế giới, bao gồm một nửa
nhân loại. [ 107,
19 ]
Đường bay quốc tế cũng
thế, từ
Tài nguyên thiên nhiên, nhờ sự phát triển
khoa học kỹ thuật, nhiều tài nguyên qúy giá dần dần
được khai thác từ ḷng biển, nhất là khi tài
nguyên trên đất liền
ngày càng bị khai thác cạn kiệt, lănh hải càng ngày
càng có thêm giá trị. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tuy diện tích bề mặt
nổi lên mặt nước không lớn, song lại rải
rác, chiếm diện tích rất rộng. Ai chiếm
được nhiều hải đảo có thể kiểm
soát nhiều lănh hải và khai thác được nhiều
tài nguyên ở dưới ḷng biển.
Từ khi có sự thăm ḍ cụ thể
dầu khí ở Biển Đông, các nước trong khu vực
bắt đầu quan tâm nhiều hơn trước, dẫn
đến tranh chấp chủ quyền với Việt
Trước năm 1957, đă có nhiều
công ty nước ngoài khảo sát địa vật lư và
khoan thăm ḍ ở thềm lục địa Nam Việt
Nam, trong đó có hai giếng đă phát hiện dầu
thương mại. Vào cuối những năm 1970, có nhiều
công ty như AGIP (Ư), DIMINEX (CHLB
Đức), BOW VALLEY (Canada) đă thăm ḍ 5 lô dầu ở
thềm lục địa miền Nam Việt Nam. Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt
hoạt động. Tháng 9/1975, Tổng Cục
Dầu Khí Việt
Việc thăm ḍ và khai thác dầu khí ở
thềm lục địa Việt
[end – NXM]