CHƯƠNG 2

C2.1 [Start – N. T. Hang – 2072 words - DONE]

 SỰ XÁC LẬP  CHỦ QUYỀN VIỆT NAM  TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được minh chứng bằng những tư liệu lịch sử không những của Việt Nam, mà c̣n của chính  Trung Hoa cũng như của PhươngTây, đồng thời bằng quá tŕnh chiếm hữu thật sự,ḥa b́nh và thực thi  liên tục của các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thề kỷ XVII sang thế kỷ XIX.

2.1 CÁC NGUỒN TƯ LIỆU MINH CHỨNG SỰ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN  VIỆT NAM  TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA.

Các    liệu của Việt Nam cũng như của Phương Tây và ngay cả một số tư liệu của Trung Quốc cũng thật hết sức rơ ràng, cho biết quá tŕnh chiếm hữu thật sư,ï hoà b́nh và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một thực tế, khác hẳn với những tư liệu mà Trung Quốc đă viện dẫn để cố suy diễn chứng minh chủ quyền của ḿnh .

2.1.1. Những tư liệu của Việt  Nam minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phân tích những tư liệu của Việt Nam, đối chiếu với những tư  liệu của Trung Quốc được viện dẫn trong bộ sưu tập "Ngă Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên" do Hàn Chấn Hoa chủ biên [48], chúng ta có một số kết quả sau:

Hầu hết các tư liệu Việt Nam, đều là tư liệu thuộc nhà nước , đặc biệt là Hội Điển, loại sách ghi điển chế biến thành luật lệ của triều đ́nh hoặc các  châu bản, tức những văn bản trao đổi giữa vua và các đ́nh thần hoặc tỉnh thần.

Hầu hết tư liệu của Việt Nam đều trực tiếp minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại  quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tư liệu Việt Nam đă đề cập đến địa danh Hoàng Sa, tiếng Nôm, cùng nghĩa, gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng, lại rất nhất quán từ đầu thế kỷ XVII, tức từ thời chúa Nguyễn đến  thế kỷ XX.  Cho đến nay vẫn c̣n giữ địa danh Hoàng Sa. Địa danh "Hoàng Sa" hoặc chữ Nôm là "Cát Vàng" lại đă được người Tây Phương xác nhận là Paracel vào thế kỷ XIX như đă tŕnh bày ở chương I.

Các   liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đă xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn, (tức đầu  thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới đầu triều Nguyễn (từ vua Gia Long) qua hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như sự  khẳng định, sự quản hạt hành chánh của chính quyền Việt Nam, và sau đó đến các triều Minh Mạng, Thiệu Trị qua hoạt động của thủy quân.  Đại Nam Nhất Thống Chí, (bắt đầu soạn năm 1865, soạn xong 1882, ấn hành năm 1910), vẫn tiếp tục khẳng định Hoàng Sa thuộc cương vực ngoài biển của Việt Nam.

Nếu không kể những tư liệu đại loại như Trung Quốc thường viện dẫn , tức là những người khi đi qua Hoàng Sa rồi cảm tác hay viết tới quần đảo này như Lư Văn Phức đi trên tàu sang Philippines năm 1832 viết “Vọng kiến Vạn Lư Tràng Sa tác” trong tác phẩm “Đông Hành Thi Thuyết Thảo” …, Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, liên tục qua các đời từ đầu thế kỷ XVII đến khi bị các nước ngoài xâm phạm, đă khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rơ ràng.

Trong thời kỳ Đại Việt, thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thờiTây Sơn (1672 - 1801), nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như  chỉ  c̣n lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đưc Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản đồ   (Viện Hán Nôm                                

 

Hà Nội, kư hiệu A2628)  của Đỗ Bá Công Đạo, Chính Hoà    năm thứ 7 (1686) (2.7) và Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn  năm 1776 .

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư   hay Toản Tập An Nam Lộ có bản đồ  (xem phụ lục 2.1a, 2.1b, 2.1c) là tài liệu xưa nhất, đă ghi phần chú thích của bản đồ với nội dung : "Giữa biển có một dải cát dài, goïi là Băi Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm, rộng 20 dặm..Từ cửa Đại Chiêm, đến cửa Sa Kỳ mỗi lần có gíó Tây Nam th́ thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió Đông Bắc th́ thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa th́ đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy th́ phải một ngày rưỡi (sic). Từ cửa Sa Kỳ đến đấy th́ phải nửa ngày (sic). “

Khoảng cách từ cửa Đại Chiêm đến Băi Cát Vàng ( chữ Hán Việt là Hoàng Sa) một ngày rưỡi đường, cũng như từ cửa Sa Kỳ nửa ngày đường là ghi lộn, v́ tất cả các tài liệu khác đều ghi 3 ngày đêm. Vả lại ngoài khơi cửa Đại Chiêm cũng như cửa Sa Kỳ không có đảo nào dài  có những đặc điểm mà tài liệu đă mô tả trên , ngoài Băi Cát Vàng hay Hoàng Sa tức Paracel.

 

 C̣n tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, năm 1776 (2.8) là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa. Lê Qúi Đôn được Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cử vào Phú Xuân năm 1775 để lo sắp đặt kế hoạch b́nh định hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam mới được quân Chúa Trịnh  đánh chiếm của Chúa Nguyễn từ năm 1774. Đến năm 1776, ông lănh chức Hiệp Trấn và viết ra sách Phủ Biên Tạp Lục. Phủ Biên Tạp Lục gồm 6 quyển, trong đó   quyển 2 có 2 đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa như sau:

Đoạn văn thứ 1:  (quyển 2, tờ 78b -79a) (xem phụ lục 2.2) :

“... Ở ngoài cửa biển lớn thuộc về địa phận xă An Vĩnh, huyện B́nh Sơn, phủ Quảng Nghĩa (2.9) có một ḥn núi mang tên là Cù Lao Ré (2.10) . Chiều rộng núi này có thể hơn 30 dặm. Ngày trước có dân cư phường Tứ Chính trồng các thứ cây đậu tại ruộng nương nơi đó. Người ta ra biển rồi chèo thuyền đi bốn trống canh nữa có thể đến Cù Lao Ré.

Ở ngoài núi Cù Lao Ré có đảo Đại Trường Sa (2.11) ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày đêm mới đến được  đảo Đại Trường Sa ấy, như thế là đảo Đại Trường Sa đă gần đến xứ Bắc Hải” ( tờ 78b - 79a)

Đoạn văn thứ 2 :  (quyển 2, từ tờ 82b -85a) (xem phụ lục 2. 3a,2. 3b,2.3c,2. 3d)

"Phủ Quảng- Ngăi , huyện B́nh- Sơn có xă An- Vĩnh ở gần biển,  ngoài biển về phía Đông - Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ ḥn này sang ḥn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh th́ đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có băi cát vàng dài ước hơn 20 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy, trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng ngh́n, hàng vạn, thấy người th́ đậu ṿng quanh không tránh. Bên băi vật lạ rất nhiều. Ốc vân th́ có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đeo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà- cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi th́ rất lớn, có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên băi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn th́ ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

            Các thuyền ngoại phiên bị băo thường bị hư hại [một số dị bản chép nhầm là ỷ (nương đậu) (Xem phụ lục 2.3e, 2.3g )] ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng - Sa 70 suất, lấy người xă An - Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm th́ đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, ḥn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối ch́, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cũng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám th́ về, vào cửa Eo, đến thành Phú - Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem  bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về.Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đă xem sổ của cai đội cũ là Thuyên - đức - hầu biên rằng: năm nhâm ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm giáp thân được 5.100 cân thiếc; năm ất dậu được 126 hốt bạc; từ năm kỷ sửu đến năm qúy tỵ, 5 năm ấy, mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ, và hai khẩu súng đồng mà thôi.

            Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc - Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ - chính ở B́nh - Thuận, hoặc người xă Cảnh - Dương, ai t́nh nguyện đi th́ cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đ̣, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc - hải, cù lao Côn - lôn và các đảo ở Hà - tiên, t́m lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng- Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, c̣n vàng bạc của qúy ít khi lấy được.

            Hoàng- Sa chính gần phủ Liêm - châu, đảo Hải - Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc - quốc, hỏi nhau ở trong biển. Tôi đă từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn - xương, Quỳnh - châu gởi cho Thuận - hoá nói rằng: năm Kiền - long thứ 18 có 10 tên quân nhân xă An - vĩnh, đội Cát - liềm, huyện Chương - nghĩa, phủ Quảng - ngăi nước An - nam ngày tháng 7 đến Vạn Lư Trường Sa t́m kiếm  các thứ, có 8 tên lên bờ t́m kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh- lan  cảng, quan ở đấy xét thực đưa trả về nguyên quán .  Nguyễn - Phúc - Chu [ chép nhầm , chính là Nguyễn Phúc Khoát]   sai cai bạ Thuận - hoá là Thức- lượng - hầu làm thư trả lời"  [ 28].

[end – N.T. Hang]

 

C2.2 [Start – Cuong Nguyen – 2045 words]

Như thế, một thực tế quan trọng: Phủ Biên Tạp Lục đă chép rất   "Hoàng Sa  ở gần đất Liêm Châu của Trung Quốc" . Sự thực cũng đă rành rành khi Phủ Biên Tạp Lục ghi rất chi tiết, rất rơ những hoạt động của đội Hoàng Sa ở phía Bắc, có lần lính Hoàng Sa bị băo trôi dạt vào cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Đội Hoàng Sa vừa kiêm quản đội Bắc Hải ở phía Nam tức Trường Sa ngày nay [28].

Ngoài những tài liệu trên c̣n có nhiều văn bản hiện c̣n lưu trữ trong dân gian ở Phường An Vĩnh tại  Cù Lao Reù (xem phụ lục 2.4), nay thuộc huyện đảo Lư Sơn, tỉnh Quảng Ngăi do Nguyễn Quang Ngọc, và Vũ Văn Quân (khoa Sử, Đại Học Quốc Gia Hà Nội) phát hiện.

Chẳng hạn như  đơn của ông Hà Liễu, cai hợp phường Cù Lao Ré, xă An Vĩnh, xin chính quyền Tây Sơn cho phép đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động tờ chỉ thị ngày 14 tháng 2 Thái Đức năm thứ 9 (1786) của quan Thái Phó Tổng Lư Quân Binh Dân Chư Vụ  Thượng Tướng Công đốc suất công việc của đội Hoàng Sa.

Năm 1773, sau 2 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn làm chủ miền đất từ Quảng Nam đến B́nh Thuận trong đó có đất Quảng Ngăi. Những hoạt động của đội Hoàng Sa ở xă An Vĩnh được đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Tây Sơn.

Với truyền thống hoạt động hàng trăm năm, dân xă An Vĩnh, vốn tự lập về phương tiện tàu thuyền, lại quen việc, nên luôn luôn tham gia vào đội Hoàng Sa. V́ thế, cuối thời chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong (Nam Hà), khi quân Tây Sơn nổi dậy, kiểm soát được vùng đất Quảng Nghĩa, dân xă An Vĩnh vẫn tiếp tục hoạt động ở ngoài khơi xă của ḿnh.

Tờ đơn trên của Ông Hà Liễu có đoạn viết như sau :

“Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như  cũ gồm thêm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, các  cù lao ngoài biển t́m nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp” (xem phụ lục 2.4.1)

Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng Lư Quản Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công để gởi cho cai đội Hoàng Sa:

“ Sai Hội Đức Hầu, cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt  biển,  thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, t́m nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba cùng đá quư đều chở về kinh tập trung, nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật qúy hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội” (xem phụ lục 2.4.2)

 

Sang thời kỳ Triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều  tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước hết    Địa Chí trong Bộ Lịch Triều Hiến Chương  Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) ( xem phụ lục 2.5 (a), 2.5 (b) )

Cả hai tài liệu trên đều viết về Phủ Tư Nghĩa mà nội dung hầu hết nói đến Hoàng Sa. Phủ Tư Nghĩa thuộc vào Thừa Tuyên Quảng Nam, được đặt tên từ thời Lê Thánh Tông giữa thế kỷ XV đă được Nguyễn Hoàng đổi thành phủ Quảng Nghĩa  từ năm 1602. Sang thời Tây Sơn đổi thành Hoà Nghĩa, đến năm 1801 đổi thành trấn. Đến Minh Mạng thứ 10 (1829) đổi thành tỉnh . Minh Mạng thứ 13 (1832) tỉnh Quảng Nghĩa lại có phủ mang tên cũ là Tư Nghĩa. Phan Huy Chú viết về phủ Tư Nghĩa thời Lê thay v́ Quảng Nghĩa và dùng các địa danh cũ cũng thời Lê như Nghĩa Giang (huyện), B́nh Dương (huyện). Điều này chứng tỏ Phan Huy Chú sử dụng tài liệu địa dư của Lê Trịnh ở Bắc Hà. Điều đó cũng hợp lư, v́ tác giả biên  soạn công tŕnh này hồi đầu triều Nguyễn, trong thời gian Phan Huy Chú c̣n đang lân đận khoa cử chỉ đậu Tú tài trong 2 kỳ thi (1807, 1819). Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821) (2.12), Phan Huy Chú mới dâng bộ sách này cho vua Minh Mạng   cho biết ông đă soạn trong 10 năm. Trong khi Hoàng Việt Địa Dư  Chí đă cập nhật hoá các địa danh thời Chúa Nguyễn đặt như huyện Chương Nghĩa (ghi chú là cựu Nghĩa Giang) huyện B́nh Sơn (cựu B́nh Dương), song lại sử dụng địa danh Tư Nghĩa Phủ.

Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn  cuối thế kỷ XVIII, chỉ khác  ở điểm :“Tiền Vương Lịch Triều trí Hoàng Sa đội ...” thay v́ “Tiền Nguyễn thị triù Hoàng Sa đội” - Bởi tác giả viết hai cuốn sách trên sống dưới triều đại Nguyễn, khác với Lê Qúi Đôn sống dưới triều đại Lê Trịnh ở Bắc Hà.

Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một công tŕnh biên khảo bách khoa lịch sử lớn gồm 49 quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của các triều đại Việt Nam.

 Chính Dư Địa Chí quyển 5, ở phần Quảng Nam, có nói đến phủ Tư Nghĩa. Hầu hết nội dung nói về phủ Tư Nghĩa là nói đến Hoàng Sa. Chứng tỏ Hoàng Sa rất quan yếu đối với phủ   Nghĩa hồi bấy giờ. Qua nội dung ông viết, thấy rất rơ ông đă sử dụng sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, đă tóm gọn bớt nhiều nội dung của Phủ Biên Tạp Lục. Trong Văn Tịch Chí, Phan Huy Chú cũng đă kế thừa Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn. Ngoài tả cảnh vật của Hoàng Sa, ông cũng cho biết: “Tiền Vương Lịch Triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 tên cũng lấy dân An Vĩnh luân phiên sung vào”. Song có dị bản đă chép nhầm   tháng giêng thay v́ tháng ba như Phủ Biên Tạp Lục  cho biết hàng năm"từ tháng ba đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ cũng 3 ngày 3 đêm bằng 5 chiếc tiểu điếu thuyền đến Hoàng Sa rồi cũng tháng 8 về đến cửa Eo tới thành Phú Xuân và cũng mang theo lương thực cho 6 tháng".

   Hoàng Việt   Địa Chí (1833) (2.13),( Xem phụ lục 2. 6 (a), 2. 6 ( b) ) không đề tên tác giả, được khắc in vào năm  Minh Mạng thứ 14 ( 1833) và sau đó được tái khắc in nhiều lần. Người ta thường gọi là cuốn Địa Dư Minh Mạng.

   Nhiều người như Phạm Thận Duật đă ghi  Hoàng Việt Địa Dư Chí  lại chính là của Phan Huy Chú  trong tài liệu tham bác của cuốn Hưng Hoá Kư Lược. Điều này chứng tỏ Hoàng Việt Địa Dư Chí bắt nguồn từ Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú. Đại để  nội dung có nhiều điều giống nhau, song đôi chỗ có khác nhau về từ hoặc thêm, bớt và nhất là cách tŕnh bày. Thay v́ Dư Địa Chí gồm 5 quyển, th́ Hoàng Việt Địa Dư  Chí chỉ có 2 quyển với cấu trúc khác nhau.

    Cũng như Dư Địa Chí của Phan Huy Chú, trong phần Quảng Nam,  Hoàng Việt Dư Địa Chí  đề cập đến phủ Tư Nghĩa mà hầu hết nội dung đều nói về Hoàng Sa. So với Dư Địa Chí,  Hoàng Việt Dư Địa Chí viết gọn  hơn song cùng một nội dung về hoạt động của đội Hoàng Sa.

 

 Đại Nam Thực Lục ,       Phần Tiền Biên,            quyển 10          (soạn năm 1821,

 khắc in năm 1844) (2.14), (xem phụ lục  2.9) là loại tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam nói về Hoàng Sa. Thủ phủ chúa Nguyễn là Phú Xuân bị quân Trịnh rồi quân Tây Sơn chiếm đóng nên nhiều tư liệu thời chúa Nguyễn nhất là về Hoàng Sa của chính chúa Nguyễn đă không c̣n lại đến ngày nay. Đây là tài liệu đầu tiên viết về Hoàng Sa trong thời chúa Nguyễn mà triều đ́nh nhà Nguyễn đă cho chép lại.

So với Phủ Biên Tạp Lục, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên c̣n có điểm làm rơ hơn là xác định tính chất quần đảo: rằng ngoài biển Quảng Ngăi có một loại h́nh quần đảo tục gọi là băi Hoàng Sa có hơn 130 cồn cát không biết dài tới mấy ngàn dặm lại cách xa nhau một ngày đường hoặc vài trống canh.

Ngoài ra, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cũng chép: “hồi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa, hàng năm cứ tháng 3 cỡi thuyền ra đảo, 3 ngày 3 đêm tới nơi, đến tháng 8 về  cũng chép về đội Bắc Hải mộ dân Tứ Chính, B́nh cố hoặc xă Cảnh Dương sung vào, hoạt động ở phía Nam, Côn Lôn, Hà tiên do đội Hoàng Sa kiêm quản.

 

Đại Nam Thực Lục Chính Biên (2.14) (khắc in năm 1848) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đoạn thứ 1 : Đại Nam Thực Lục Chính Biên: đệ nhất kỷ , quyển 50 (đời vua Gia Long)  chép rất rơ ràng : “tháng giêng năm Aát Hợi (1815) [vua Gia Long] sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy tŕnh...”  [97]  (xem phụ lục 2. 10 )

 Đoạn thứ 2 :Đại Nam Thực Lục Chính Biên: đệ nhất kỷ, quyển 52 (đời vua Gia Long) một lần nữa lại ghi rơ ràng : “Năm Bính Tư, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy tŕnh...” [97]  (xem phụ lục 2.11)

Đoạn thứ 3 :Đại Nam Thực Lục Chính Biên: đệ nhị kỷ, quyển 104 (đời vua Minh Mạng ) :

Lần đầu tiên tư liệu chính sử của triều đ́nh Việt Nam ghi rơ lời của một hoàng đế Việt Nam (vua Minh Mạng) đă khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, khẳng định Hoàng Sa nằm trong hải phận của Việt Nam và sai người dựng miếu, lập bia, trồng cây  [98] (xem phụ lục 2.12 (a),2.12(b) ).

 Đoạn thứ 4 :Đại nam Thực Lục  Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 122 (đời vua Minh Mạng)  chép :

"Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng 15 (1834) sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến  đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngăi vẽ bản đồ". [99]

 Đoạn thứ 5 :Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhị Kỷ, quyển 154 (đời vua Minh Mạng)  chép rất rơ ràng rằng :

"Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng v́ sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây b́nh phong.Mười ngày làm xong rồi về." (xem phụ lục 2.13 a, 2.13 b) [100]

[End – Cuong Nguyen]

 

C2.3 [Start – D.L.T. Ngoc – 1976 words]

 Đoạn thứ 6: Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 (đời vua Minh Mạng) (xem phụ lục 2. 14 (a), 2.14 (b), 2.14 (c) ),viết rất rơ quan điểm của Bộ Công và hoạt động của Bộ này tại Hoàng Sa :

 “ Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời nhà Thanh) Bộ Công tâu : “Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về h́nh thế xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết vẽ nên làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh  và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô  nhằm thượng tuần tháng hai th́ đến  Quảng Ngăi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định , thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, băi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức th́ cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, và nước biển, băi biển xung quanh nông hay sâu, có băi ngầm, đá ngầm hay không, h́nh thế hiểm trở b́nh dị thế nào, phải xem xét đo đạc rơ ràng , vẽ thành bản đồ... Chưa bao giờ chúng ta có một tài liệu chi tiết như tài liệu này và sự chỉ đạo của Bộ Công về việc hoạt động của thủy quân biền binh và giám thành trong việc đo đạc, vẽ bản đồ một cách qui mô về quần đảo Hoàng Sa. [101]

 Đoạn thứ 7 : Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 c̣n chép : " Vua Minh Mạng đă y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân  Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền". Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ: “ Minh Mạïng thập thất niên (1836), Bính Thân, thủy quân chinh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh văng Hoàng Sa đường độ chí thủ lưu chí đẳng tự[101]

 Đoạn thứ 8 :Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ tam kỷ, quyển 49  (đời Thiệu Trị) chép :"Thiệu trị thứ 5 Aát Tỵ (1845), ngũ đẳng thị vệ Nguyễn Hoán được phái đi đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngăi, tự tiện quấy rối các làng… Hoán phải tội lưu …" [102]

Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) (2.15), có đoạn văn đề cập đến Hoàng Sa trong quyển 207, tờ 25b  -26a  rằng: “Năm thứ 16 (1836) chuẩn y lời tâu cho tỉnh Quảng Ngăi dựng miếu Hoàng Sa một gian (làm kiểu nhà đá) ở phía Tây Nam cồn cát trắng. Bên tả dựng bia đá (cao 1 thước 5 tấc, mặt 1 thước 2 tấc), phía trước xây bức b́nh chắn, phía tả, phía hữu và phía sau trong các loài cây” (xem phụ lục 2.15 a, 2.15 b).

Cũng trong bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ quyển 221 [93] c̣n có đoạn chép như sau: Năm  thứ 17 (1836) chuẩn y  lời tâu rằng: Hoàng Sa thuộc khu vực ngoài biển rất là hiểm  yếu. Minh Mạng năm thứ 15, đă phái biền binh thủy quân và giám thành đến nơi xem xét, v́ có gió lụt, nên chưa thăm ḍ được nơi đích xác. Năm qua lại phái ra và đă dựng miếu, dựng bia. C̣n việc hoạ đồ chỉ được một chỗ chưa được rơ ràng. Có lẽ hàng năm cần phải đi thám ḍ khắp chỗ thuộc đường bể. Nay cần tư cho Quảng Ngăi, B́nh Định chiếu lệ năm trước, thuê bắt thuyền dân và bắt người đi trước đều đều đến tỉnh Quảng Ngăi, vẫn phái biền binh thủy quân và giám thành cưỡi một chiếc thuyền sơn đen lái đến đích Chữ Hoàng Sa. Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đếm nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi đều bao nhiêu và bốn bề nước bể nông hay sâu? Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở h́nh thế hiểm trở hay b́nh thường, xem đo tỏ tường, vẽ thành dồ bản. Lại chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trong phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đă đi khấu tính ước được bào nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy  trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để vẽ tŕnh lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.  [93, 492]

 

Tài liệu rất qúi giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX)  (2.5), ở đó người ta t́m thấy những bản tấu, phúc tấu của các đ́nh thần các bộ như bộ Công, bộ Hộ và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc thực thi  chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc văng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Cũng có nội dung bản tấu cho biết những hoạt động hàng năm trên bị hoăn tháng khởi hành như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thay v́ hạ tuần tháng 3 khởi hành, măi tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành, hoặc năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đ́nh hoăn kỳ văng thám

năm 1846.

Trong châu bản triều Nguyễn thế kỷ XIX, có những đoạn nói về sự thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa sau đây:

 

·        Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ  16 (1835) thưởng phạt những người công tác tại Hoàng Sa.  Trong Châu bản tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết  vua Minh Mạng ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên 80 trượng v́ tội tŕ hoăn thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng chưa chu tất việc vẽ bản đồ Hoàng Sa. Trong khi đó  lại thưởng dân binh đội Hoàng Sa Vơ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi người một quan tiền v́ đă có công hướng dẫn hải tŕnh của thủy quân đi Hoàng Sa. [80] 

 

·        Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836 ), trong tập châu bản Minh Mạng 55, trang 336  ghi lời châu phê của vua Minh Mạng:  Mỗi thuyền văng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc  , khắc sâu hàng chữ: “Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai  đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu.  Vua cũng phê rằng thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng c̣n ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ  Thuận An  vào Quảng Ngăi để đi công tác Hoàng Sa [5].

 

 

·        Tấu của bộ Hộ ngày 11 tháng 7 năm Minh  Mang thứ 17 (1836) xin thanh toán cấp lương thực cho dân phu công vụ Hoàng Sa.  [6]

·        Dụ ngày 13 tháng 7 Minh Mạng 18 (1837)   trong tập châu bản Minh Mạng 57, trang 245 có đoạn cho biết  trước có phái thủy sư, giám thành,  binh dân hai tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ hoạ đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm 4 tên can tội đă có chỉ phạt trượng, c̣n binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương dân phu mỗi tên 2 quan tiền. [81] (xem phụ lục  2.7(a), 2.7(b)).

·        Tấu của bộ Công ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mạng thứ 19 (1838) về việc hoăn khởi hành ra Hoàng Sa bởi gió mưa lớn  trong tập châu bản Minh Mạng 68, trang 21 có viết xin tấu tŕnh lên vua vào ngày 2 tháng 4 nhuận Minh Mạng 19 (1838), việc phái văng thám để  đo đạc giáp ṿng  Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng v́ gió Đông nổi lên  liên tục kèm  theo  mưa lớn tới hạ tuần tháng 4 vẫn  chưa khởi hành  được. [7]

·        Tấu của Bộ Công ngày 21 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 19 (1838)  về việc thám sát và vẽ bản đồ ở Hoàng Sa. Bản tấu viết rằng những người được phát đi Hoàng Sa do Bộ ty Đỗ Mậu Thưởng và Thị vệ Lê Trọng Ba dẫn đầu và hướng dẫn viên Vũ Văn Hùng. Oâng Hùng cho biết Hoàng Sa tất cả có 4 nơi cần khảo sát th́ lần này đi được 3 nơi. C̣n mội nơi hơi xa ơ Phía Nam mà v́ gió Nam đương mạnh, nên họ xin đến sang năm đi tiếp. Quần đảo Hoàng Sa có 25 ḥn cần khảo sát  mà lần này đi tới được 12 ḥn, c̣n 13 ḥn chưa đi tới được. Lần này đoàn khảo sát vẽ được 4 bức bản đồ ( 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung). Tấu của Bộ Công  lần này do Thang Huy Thận phụng thảo và Hà Duy Phan và Lư Văn Phức phụng duyệt c̣n cho biết các đồ bản vẽ lần này chưa rơ ràng và có một bản nhật kư chưa được tinh tường. Bộ Công sẽ cho vẽ lại tinh vi, sẽ tấu tŕnh tiếp ( xem phụ lục 2.8 (a), 2.8(b) ).

·        Tấu của tỉnh Quảng Ngăi ngày 19 tháng 7 Minh Mạng 19 (1838)  xin miễn thuế cho 2 chiếc “bổn chinh thuyền” . Trong tập châu bản Minh Mạng số 64 trang 146 có đoạn viết rằng ngày 19 tháng 7 Minh Mạng thứ 19 (1838) : Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc “bổn chinh thuyền’ đă đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp ṿng từ  hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6 , hoàn tất công vụ nay đă trở về [112].

·        Phúc tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847) về việc đ́nh hoăn thám sát Hoàng Sa.  Trong tập châu bản Thiệu Trị 41, trang 83 có đoạn viết: “Ngaøy 26 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847): Tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) ra sắc về việc đ́nh hoăn thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi chỉ  nên văng thám Hoàng Sa kỳ này hay không ?” . Châu phê :”Đ́nh hoăn”  [8].

·        Tấu của Bộ Công ngày 28 tháng 12 Thiệu Trị 7 (1847)  trong tập châu bản Thiệu Trị 51, trang 235 có đoạn viết trong ngày 28 tháng 12 Thiệu Trị (1847) rằng  hàng năm, vào  mùa xuân  theo lệ phái binh thuyền văng thám  Hoàng Sa thuộc hải cảng nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ đ́nh hoăn kỳ văng  thám  năm Thiệu Trị 6 (1846) v́ công vụ bận rộn, năm nay cũng xin đ́nh hoăn (xem phụ lục 2.8 (c), 2.8(d) ). [9]

[End – D.L.T. Ngoc]

 

C2.4 [Start – N.T.T. Son – 2039 words]

Việt Sử Cương Giám Khảo Lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) (2.17) có đoạn viết về Hoàng Sa như  sau:

“Vạn Lư Trường Sa : từ đảo Lư Sơn (tục gọi là Ngoại La [tức Cù Lao Ré] đi thuyền về phía Đông , ba ngày ba đêm th́ đến. Nước Việt Nam ta   buổi quốc sơ  thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh, mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những vật ngoài biển, hàng năm cứ  tháng 2 đi,  tháng 8 về. Băi Cát dăng từ  phía Đông mà sang phiá Nam,  chỗ nổi lên chỗ ch́m xuống,  không biết mấy ngh́n dặm. Ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu được. Trên băi có nước ngọt. Chim biển có nhiều giống không biết tên. Có một cái  miếu cổ, lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ “Vạn lư Ba B́nh" [muôn dặm sóng êm], không biết dựng từ đời nào. Các quân nhân đến đây thường đưa những quả Phương Nam mà văi ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để làm dấu mà nhận. Từ khi đội Hoàng Sa băi, gần đây không ai hỏi đến miếu ấy nữa. Truyện kư của người xưa nói nhiều về cảnh đẹp của “Thập Châu Tam đảo”. Ngày nay suy ra không thể nói là không có những đất ấy, nhưng nói là chỗ ở của thần tiên th́ sai.” [120]

Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần 2 và  khắc  in)  (2.18), ấn hành năm Duy Tân thứ 3 (1910), quyển 6 : tỉnh Quảng Ngăi có 2 đoạn văn chép rơ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đại Nam Nhất Thống Chí lại tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản.

Đại Nam Nhất Thống Chí cũng cho thêm chi tiết về thực thi chủ quyền của Việt Nam thời Minh Mạng  như sai binh lính xây dựng chùa, bia tại Hoàng Sa (xem phụ lục 2.16(a), 2.16(b), 2.16(c)  ) [103]

 

Trong quyển III Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, (2.19) đời vua Minh Mạng, có 3 đoạn văn liên quan đến Hoàng Sa .

            Đoạn thứ nhất (QTCBTY, quyển 3, tờ 97b-98a) viết rằng: "Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngăi có một chỗ có cồn cát trắng cây cối xum xuê tươi tốt. Ở trong cồn cát có một cái giếng. Phía tây nam có một ngôi miếu xưa, bia đá khắc bốn chữ "Vạn Lư Ba B́nh" (nghĩa là muôn dặm sóng yên). Cồn cát trắng  trước kia có tên là Phật Tự Sơn. Các bờ đông, tây và nam đều có san hô. Có một đồi đá nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với đồi cát, gọi là Bàn Than Thạch. Ra lệnh xây miếu và dựng bia ở chốn này. Trước miếu có xây b́nh phong".(xem phụ lục  2. 17a, 17b) [104]

            Đoạn thứ hai  (QTCBTY, quyển 3, tờ 104a) viết rằng "tháng giêng, năm Bính Thân thứ 17 (1836)…, triều đ́nh đă khiến thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đến Quảng Ngăi, thẳng tới miền Hoàng Sa, không nệ cù lao nào, cồn cát nào, phàm chiều dài, chiều ngang, chiều rộng, chiều cao, châu vi và bốn phía gần đó có cát ngầm đá mọc hay không; h́nh thể hiểm dị thế nào, từ cửa biển ra đó đường thủy ước bao nhiêu dặm; bờ biển thuộc địa phương nào, nhất nhất ghi chép rơ ràng. Lại chuẩn bị mang theo thẻ gỗ đến nơi dựng lên làm dấu, vẽ đồ bản đem về dâng lên ngài ngự lăm." (xem phụ lục 2. 17 (c) ) [104]

            Đoạn thứ ba (QTCBTY, quyển 3, tờ 110a) viết rằng:"Năm Bính Thân thứ 17 (1836) tháng 12, tàu buôn nước Anh Cát Lợi qua băi Hoàng Sa, bị cạn ghé vào băi biển B́nh Định hơn 90 người. (Vua) sai t́m nơi cho ở và hậu cấp tiền gạo. Thuyền trưởng, đầu mục tỏ ra rất cảm kích. (Vua) sắc cho phái viên đi Tây. Nguyễn Tri Phương đem mấy người ấy xuống bến ở Hạ Châu đưa về nước".( xem phụ lục 2.17(d) ) [104]

 

            Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Băi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa trong cương vực của Việt Nam. Chẳng hạn bản đồ trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư của Đỗ Bá Công Đạo hay bản đồ Đường Qua Quảng Nam đời Lê do M.G Dumontier vẽ lại bản đồ của Đỗ Bá (h́nh 2.34 ). Bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ trong Nam Bắc Kỳ Hội Đồ (h́nh 2. 35). Rất tiếc những bản đồ chi tiết cũng như tổng quát vẽ các đảo Hoàng Sa thời nhà Nguyễn nhất là thời Vua Minh Mạng do thời tiết khắc nghiệt cũng như chiến tranh tàn phá đă không c̣n lưu giữ.

 

2.1.2  Những  liệu của Trung Quốc và Phương Tây minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

+ Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền của Việt Nam tạiquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :

Trong thời gian chưa có sự tranh chấp chủ quyền, tức trước năm 1909, rất nhiều tài liệu của Trung Quốc cũng như Phương Tây đều gián tiếp hay trực tiếp xác nhận  chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

·        Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc)   năm 1696  (2.20).

Trong quyển 3  của Hải Ngoại Kỷ Sự đă nói đến Vạn Lư Trường Sa tức Hoàng Sa và đă khẳng định Chúa Ngăi đă hành sử chủ quyền của ḿnh trên quần đảo này như sau:

"Bởi v́ có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, băi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành; băi cát rộng  cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là  “Vạn Lư Trường Sa” , mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa;  nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quảng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền lui tấp vào.  Mùa thu nước dâng cạn, chảy rút về hướng Đông bị một ngọn sóng  đưa thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh , sợ có hiểm hoạ Trường Sa". [116,125]

Thích Đại Saùn đaơ kể lại kinh nghiệm hải tŕnh qua vùng Hoàng Sa tức Vạn Lư Trường Sa và cho biết ước lượng khoảng cách từ vùng Hoàng Sa đến Đại Việt khoảng bảy ngày đường. Những tài liệu của Việt Nam như  đă cho biết giữa các đảo phải đi đến  mất 1 ngày đường, nên nếu phải trải qua hàng  trăm dặm tới  Đại Việt đi mất tới 7 ngày đường, trong khi từ bờ biển Việt  Nam đi tới đảo gần nhất của quần đảo Hoàng Sa chỉ mất 3 ngày 3 đêm là hợp lư.           

Thích Đại Sán viết  “Thời Quốc Vương trước , ở đây hàng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền bị đắm ở Hoàng Sa” cũng phù hợp với các tài liệu Việt Nam về hoạt động đội Hoàng Sa, song rơ hơn là xác định thời gian trước thời Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), có nghĩa là ít ra cũng ở  thời Nguyễn Phúc Trăn  (1687 - 1691) hoặc các Chúa Nguyễn khác. Trong thời gian này, chưa có tranh chấp nên Thích Đại Sán là người Trung Quốc đă có thái độ khách quan ghi nhận chủ quyền của Đại Việt đối với Hoàng Sa như  tŕnh bày ở trên. Cũng như các phần lănh thổ khác của Đại Việt, chẳng bao giờ có các văn bản của triều đ́nh Trung Quốc xác nhận. Truyền thống chiếm hữu lănh thổ của Phương Tây cũng chẳng bao giờ công bố cho các nước khác được biết. Chỉ có thực tế lịch sử xảy ra như thế nào th́ những người am hiểu tường tận như Thích Đại Sán biết rơ sự việc xảy ra ở Đại Việt xứ  Đàng Trong đă ghi nhận như thế.

·        Các bản đồ cổ Trung quốc do chính người Trung quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung quốc.

Khảo sát tất cả các bản đồ cổ của Trung quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả các bản đồ cổ nước Trung quốc do người Trung quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa hay bất cứ các đảo nào mà Trung quốc suy diễn là Tây Sa và Nam Sa có nằm trong các bản đồ cổ ấy. Tất cả các bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía  Nam của Trung quốc.

Chẳng hạn như  "Dư địa đồ"  đời Nguyên của Chu Tư  Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách "Quảng Dư đồ" của La Hồng Tiên quyển 1, thực hiện năm 1561, phần cực Nam lănh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2. 36).

- "Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ"  đời Minh trong Đại Minh Nhất Thống Chí, năm 1461, quyển đầu, đă vẽ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.37)

-"Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ" đời Minh, trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ của Trần Tổ Thụ, 1635, quyển thượng đă vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.38).

-"Lộ Phủ, Châu Huyện Đồ" đời Nguyên vẽ lại trong Kim Cổ Dư Đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638, quyển hạ đă vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.39)

- "Hoàng Triều Phủ Sảnh, Châu , Huyện Toàn Đồ"  đời Thanh, khuyết danh, năm 1862, vẽ theo "Nội Phủ Địa Đồ" gồm 26 mảnh mang tên "Đại Thanh Trực Tỉnh Toàn Đồ" đă vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.40)

- "Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ" trong tập Hoàng Triều Nhất  Thống Dư Địa Tổng Đồ (khuyết danh), năm 1894, đă vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.41)

- "Quảng Đông Tỉnh Đồ"  trong Quảng Đông Dư Địa Toàn Đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông soạn năm 1897, có lời tựa của tổng đốc Trương Nhân Tuấn đều không thấy bất kỳ quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa [58] (h́nh 2.42).

- " Đại Thanh Đế Quốc" , trong tập "Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ" do Thường Vụ Aán Thư Quán Thượng Hải, 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910, đă vẽ phần cực Nam lănh thổ  Trung quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.43)

- "Đại Thanh Đế Quốc Vị Trí Khu Hoạch Đồ " (1909), cũng như bản đồ trên  đă vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.44)

Sau năm 1909, nhiều bản đồ Trung Quốc đă vẽ Tây Sa, Nam Sa trong lănh thổ của Trung Quốc, trong đó có "Trung Quốc Cương Giới Biến Thiên Đồ" năm 1939, đă vẽ ranh giới thuộc quốc đời Thanh xuống tận gần Indonesia, gồm cả Triều Tiên [58] (h́nh 2.45).

[end – N.T.T. Son]

 

C2.5 [Start – Ngoc Lan – 2073 words]

Ngoài ra, một số   liệu  cổ mà Trung Quốc trưng ra để chứng minh sự phát hiện sớm của người Trung Quốc (mà thực ra chỉ là suy diễn không có cơ sở vững chắc để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc) lại đều là các tài liệu viết về nước ngoài như  Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phù. Xứ Giao Châu là Việt Nam cũng chỉ "Bắc thuộc" một thời gian nhất định. Cũng thế các tác giả trên đă dẫn Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát (chứ không phải Triệu Nhữ Thích), đời Nam Tống  (1225) có nhắc đến Thiên Lư Trường Sa, Vạn Lư Thạch Đường ở Phiên Quốc ,  có nghĩa nước khác chứ không phải Trung Quốc. Tư liệu cổ Trung quốc cũng dẫn Phù Nam Truyện của Khang Thái (đời Ngô Tam Quốc), Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn (đời Ngô). Chư  Phiên Đoà đời Tống lại xác định giới hạn của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương tức Giao Chỉ Dương.  Giao Chỉ Dương hay  Biển Giao Chỉ lại là Vịnh Bắc Bộ trong khi  Hoàng Sa, Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ… Như thế các tài liệu cổ trên đă gián tiếp chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc các nước khác mà Trung Quốc gọi là Phiên Quốc, hay Giao Châu , Nam Châu.

 

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 nănm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các ḥn đảo này, song đều không có giá trị ǵ để minh xác chủ quyền Trung Quốc bởi đồng tiền La Mă đă từng được phát hiện ở Óc Eo (An Giang), ở miền Nam Việt Nam nhưng không thể chứng minh rằng Óc Eo (An Giang) thuộc chủ quyền La Mă. Các nhân viên khảo cổ Trung Quốc c̣n phát hiện được 14 ngôi miếu cô hồn và cho rằng chúng có từ thời Minh Thanh. Trong các ngôi miếu cô hồn ấy lại có 2 ngôi miếu ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ưle Boisée) đă được nhóm Hàn Chấn Hoa biên chép lại từ bài báo “Từ quần đảo Tây Sa trở về” trên Đại Công Báo Hương Cảng , ngày 31 tháng 3 năm 1957, ghi rơ :

Trên đảo Vĩnh Hưng [ Phú Lâm ] hiện nay có 2 ngôi miếu mà ngư dân tự xây dựng nên. Miếu mặt Nam gọi là “Cô hồn miếu”, miếu ở mặt Bắc gọi là “Hoàng Sa Tự” (Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, Ngă Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên, thiên thứ 1, trang 115 )

“Hoàng Sa Tự”  là bằng chứng hiển nhiên vết tích của  việc xác lập chủ quyền của Việt Nam mà các vua chúa Việt Nam, trong có thời Minh Mạng sai thủy quân ra Hoàng Sa xây dựng miếu, chùa như đă tŕnh bày trong chương này.

 

* Tư liệu Phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1494, Giáo Hoàng Alexandre VI đă dùng quyền lực tinh thần để phân các vùng ảnh hưởng trên thế giới cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sự phân chia này được chính thức hoá trong hiệp ước Tordesillas 1494. Do đấy, các đội thương thuyền của Bồ Đào Nha đă đi về phương Đông tức Ấn Độ và Trung Quốc. Bồ Đào Nha đă thiết lập một thương điếm ở Ma Cao (Trung Quốc)  từ năm 1511 và biến Ma Cao thành thuộc địa từ 1557. Từ đó các thương thuyền qua lại Biển Đông và có những nhà hàng hải Bồ Đào Nha thám hiểm vùng Biển Đông trong đó có đảo Hoàng Sa.

Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Fernăo Mendes Pinto, một giáo sĩ Ḍng Tên đă viết cuốn sách du kư Peragrinacăo (dịch ra tiếng Pháp là Pérégrination nói về  chuyến du hành năm 1545, được xuất bản tại Lisbonne năm 1614.trong đó FM., Pinto đă mô tả về quần đảo Hoàng Sa mà ông gọi là Pulo Pracela  (Pracela  tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là san hô, Pulo có nghĩa là đảo, cù lao). Cũng trong thời gian này, các nhà truyền giáo đi theo các thương thuyền  đă đến truyền đạo vào Đàng Ngoài của Việt Nam vào 1533. Con đường hàng hải vào đầu thế kỷ XVI từ Malacca đến Macao  đă bắt đầu gặp trở ngại, các thương thuyền bị đụng vào các băi đá ngầm ở Biển Đông. Qua những cuộc khảo sát với rất nhiều nhật kư hải tŕnh của các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha trong nửa  sau thế kỷ XVI đă nói về một dải cao tầng băi đá ngầm Pullo Sissir (Baixos de Pullo Sissir), (vĩ độ 10) mà người ta thấy rất nguy hiểm, càng ngày người ta càng thấy rất rộng, bao quát cả một vùng đảo  Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay, tương tự như những hiểu biết của các nhà địa lư của Việt Nam cùng thời. Càng ngày người ta càng có nhiều thông tin song chỉ lờ mờ rằng có rất nhiều những băi đá ngầm nổi lập lờ trên mặt nước chỉ cao khoảng chừng một đầu người, luôn luôn bị sóng biển che lấp. Ban đêm, có khi tàu thuyền đi đến sát mũi   mới nhận ra được. Có một số đảo phủ cỏ và muối, một số băi cát. Những hải tŕnh không gặp đá ngầm thường rất hẹp và nếu người ta đi qua được yên lành th́ chỉ nhờ có Chúa phù hộ cho mà thôi. Các tác giả khuyên các nhà hàng hải chớ bao giờ rời xa bờ biển Champa.

Cũng giống như các nhật kư hải tŕnh, các tấm hải đồ của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI phản ánh một quan niệm, hiểu biết chung về một quần đảo mà họ gọi là Pracel  giống như một dải "ruban" dài hay như một lưỡi dao dài cong chứ không găy khúc, kéo dọc suốt ngoài khơi với bờ biển Đàng Trong lúc bấy giờ. Những tấm bản đồ hiếm có t́m thấy xưa nhất có ghi nhận quần đảo Hoàng Sa (Parcel) của người Bồ Đào Nha c̣n là những bản đồ vào giữa thế kỷ XVI. Đó là bản đồ Bartholomen Velho (1560) (h́nh 2.46)  được ghi lại trong sách của P.Y. Manguin và bản đồ khuyết danh trong cuốn Livro da Marinharia, ghi lại trong cuốn Peregrination của F.M. Pinto.(h́nh 2.47). Hai tấm               bản đồ có ghi niên đại 1560 tương đối giống nhau đă phản ánh trung thực sự hiểu biết lúc bấy giờ của người Phương Tây về Hoàng Sa. Nói chung người Phương Tây lúc bấy giờ mà tiêu biểu là người Bồ Đào Nha chưa hiểu  biết rơ về Hoàng Sa cũng chưa biết các đảo này thuộc về chủ quyền của nước nào. H́nh dáng Hoàng Sa mà người Bồ ghi hàng chữ J Do Pracel trên cũng ở phía Bắc một dải dài  những chấm nhỏ chạy từ khoảng Cù Lao Chàm ở ngoài khơi Hội An, được gọi là Pulo Campello tới Cù Lao Thu (đảo Phú Qúi) được ghi bằng Pulo Sissir, ngoài khơi Phan Thiết ngày nay. Cái dải dài rộng và những chấm đậm ở phiá Bắc, càng về phía Nam càng hẹp lại và tận cùng bằng cái chấm nhỏ giống như một dải “ruban” nhọn phía dưới. Dải “ruban” Pracel ấy trong “Livro da Marinharia” của FM Pinto được ghi nhiều chấm hơn, phía Bắc đậm hơn, bề ngang phần dưới hẹp hẳn.

 

Đến cuối thế kỷ XVI, bản đồ Fernao Vaz Dourado (1590) (h́nh 2.48)  cho thấy người Bồ Đào Nha cũng chưa tăng sự hiểu biết ǵ thêm. Song người Hà Lan đă bắt đầu hoạt động rất mạnh ở vùng này với bằng chứng  bản đồ của Van - Langren năm 1595 (h́nh 2.49) hết sức phong phú, rất nhiều chi tiết nhất là tại vùng Trung Bộ. Tại Bắc Bộ cũng có nhiều chi tiết rơ hơn nhất là sông Hồng đă được vẽ bắt nguồn từ Vân Nam ghi là Suinam. Ở phía Tây Bắc Pracel có đảo Hải Nam được ghi là I Ainam. Ở phía Đông Bắc và Đông th́ không có ghi địa danh nào cả, song lại được vẽ bởi những chấm đậm và liền nhau. Điều đặc biệt ở bản đồ Van - Langren (1595) trên phần đất liền, ngoài địa danh rất đáng lưu ư là  mũi Varella c̣n có  bờ biển  ghi là Costa da Pracel ở đối diện với Pulo Canton (Cù Lao Ré)  thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngăi.

 Bước qua thế kỷ XVII, do nhiều nguyên nhân, người Bồ Đào Nha đă mất thế độc quyền ở Biển Đông. Một số quốc gia khác đă vượt trội, tăng cường sự có mặt của ḿnh ở vùng biển này, đi lại ngày càng nhiều chung quanh quần đảo Hoàng  Sa. Địch thủ có thế lực lớn mạnh nhất của Bồ Đào Nha lúc này là Hà Lan. Tiếp theo là Anh và Pháp. Khác với phương thức kinh doanh của người Bồ Đào Nha trong thế kỷ trước, các hoạt động hàng hải của Hà Lan, Anh và Pháp trong thế kỷ này chủ yếu dựa vào những công ty thương mại quốc tế, được các chính quyền nhà nước ấy ủy quyền và bảo trợ, điển h́nh là các công ty Đông Aán -  Lan (V.O.C.) thành lập năm 1602 và các công ty Đông Aán Anh (East India Company) thành lập năm 1600. Hoàng Sa nằm trên các tuyến đường giao thương quốc tế lúc bấy giờ đă được người Tây Phương coi là một vị trí chiến lược trọng yếu.

Sang thế kỷ XVIII, những cuộc khảo sát Biển Đông của các công ty Đông Aán rất kỹ càng. Từ cuộc thám hiểm đo đạc của phái bộ Kergariou - Locmacria vào những năm 1778 - 1787 ở Biển Đông đă giúp cho người Phương Tây hiểu biết rơ hơn, trung thực hơn, không c̣n lờ mờ và sợ hăi như  những huyền thoại trước đây về Biển Đông. Các hải tŕnh tương đối an toàn hơn, tuy họ không hề phủ nhận sự nguy hiểm và hoạ đắm tàu ở khu vực quần đảo Paracels.

Người Pháp qua các hoạt động của các giáo sĩ, thương gia nhất là từ khi giám mục Pigneau de  Béhaine giúp Nguyễn Ánh về quân sự, đă bắt đầu quan tâm đến Việt Nam và kế thừa những hiểu biết của người Bồ Đào Nha, Hà Lan, đă biết rất rơ về nội t́nh chính trị Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài thời phân tranh cũng như khi thống nhất. Từ đó, người Phương Tây mới biết rơ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.

Như thế, chính người Pháp mới bắt đầu cung cấp những tài liệu xác thực về sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Sau đây là những tài liệu chủ yếu :

·        Nhật Kư trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.

Các thư từ nhật kư của người Tây Phương, trong đó có  người Pháp, đă được tập hợp thành bộ “Lettres Edifiantes et Curieuses” của Archives des Missions Étrangères de Paris,  Paris , 1838, 4 vols.

Trong tài liệu này,  nhật kư của chiếc tàu Amphitrite chở các giáo sĩ Pháp qua quần đảo Paracels vào năm 1701  ghi như sau:

“Người ta cho tàu nhổ neo, gió rất tốt. Và sau đó một thời gian đi đến mỏm đá Paracels.  Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. Đó là một băi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đă xảy ra các nạn đắm tàu ở đó”. [66]

[end – Ngoc Lan]

 

C2.6 [Start – Nguyen Phung Hung – 2042 words]

·        “ Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825), viết vào những năm cuối đời Gia Long (1816 - 1819) đă khẳng định năm 1816 vua Gia Long đă xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.

Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) được vua Gia Long đặt tên là Nguyễn Văn Thắng, phong là Thắng Toàn Hầu, từng theo giúp Nguyễn Aùnh chống Tây Sơn,  đă thay J. M. Dayot vào cuối năm 1796  trông coi tàu Phi Long, có dự trận Thị Nại 1801, hoạt động ở Quảng Nam - Huế. Ông trông coi việc tiếp tế cho quân đội ở Phú Xuân (sắc ngày 16 -3 - 1802).

Ông viết hồi kư nhan đề “Le mémoire sur la Cochinchine” được A. Salles, một viên chức thanh tra thuộc địa công bố trên Bulletin des Amis du Vieux Hueá, n02, Avril - Juin 1923, trong đó có đoạn viết :

“Nước Cochinchine mà vua bây giờ xưng đế hiệu (Hoàng đế) gồm xứ Đàng Trong (Cochinchine proprement dite), xứ Đông Kinh (Tonquin), một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư  không xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành  bởi những đảo nhỏ, đá ngầm và mỏm đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816  đương kim hoàng đế mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy" [36, 13] [177]

·        “Univers,  histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816.

 Giám mục Jean Louis Taberd  trong cuốn “Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes”, xuất bản năm 1833 viết về Paracels như sau:

“Chúng tôi không đi vào việc kê khai những ḥn đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ư rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels, mà người Việt gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa (có nghĩa là Cát Vàng) gồm rất nhiều ḥn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những băi cát, làm cho những kẻ đi  biển rất e ngại, đă được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong".

“Chúng tôi không rơ họ có thiết lập một cơ sở nào tại đó không; nhưng có điều chúng tôi biết chắc  là hoàng đế Gia Long đă chủ tâm thêm cái đoá hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ông, v́ vậy mà ông xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816 mà Ngài đă long trọng treo tại đó lá cờ  của xứ Đàng Trong”. [66] [186]

·        An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong lănh hải Việt Nam. [27] (h́nh 2.50)

Baûn đồ này được đính sau cuốn Tự Điển Việt -  La Tinh  nhan đề “Latino - Anamiticum” của giám mục Taberd từng làm thông dịch cho vua Minh Mạng từ tháng 11 năm 1826, xuất bản năm 1838. Bản đồ có chiều dài 80cm, ngang 44cm in trên loại giấy thường để in hoạ đồ. Nhan đề bản đồ được in bằng ba thứ tiếng: chữ Hán, chữ Quốc Ngữ và chữ La Tinh.

An Nam Đại Quốc Họa Đồ là một tài liệu phản ảnh sự tổng kết những hiểu biết sâu sắc và chính xác của người Phương Tây từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX về mối quan hệ giữa quần đảo Hoàng Sa và nước Đại Việt  mà tác giả gọi là An Nam Đại Quốc. An Nam Đại Quốc Họa Đồ là một minh chứng rất hùng hồn khẳng định một cách rơ ràng :

1.   Paracels   địa danh mà người Phương Tây chỉ quần đảo ở Biển Đông suốt thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX chính là Cát Vàng hay Hoàng Sa của Việt Nam. Trong bản đồ này có ghi chú “Paracels Seu Cát Vàng . Tại Biển Đông không có đảo Hải Nam của Trung Quốc mà chỉ có đảo của Việt . Đảo ở khoảng vĩ độ 170 Bắc và kinh độ hơn 1110 Đông, có vẽ một số đảo (bằng một số dấu chấm) và ghi hàng chữ  "Paracel Seu Cát Vàng". Từ  Seu ( tiếng La Tinh) = " có nghĩa là",  Cát Vàng ( tiếng Nôm)  tức là "Hoàng Sa" (tiếng Hán Việt).  Paracel = Cát Vàng = Hoàng Sa,   là một khẳng định rơ ràng nhất quán chứ không phải suy diễn như Tây Sa của Trung Quốc.

2.   Trong bản đồ An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ không ghi đảo Hải Nam hay bất cứ đảo nào của các nước láng giềng và chỉ ghi "Paracel Seu Cát Vàng" mà thôi, chứng tỏ Paracel Seu Cát Vàng nằm trong lănh thổ của An Nam Đại Quốc hay Đại Việt.

3.   Địa danh Paracel ghi bên cạnh những chấm đánh dấu các đảo  ở khoảng vĩ  độ 160   Bắc (ngang vĩ độ cửa Tư Dung , Thừa Thiên )  lên đến vĩ độ 170 Bắc khoảng Cửa Tùng (Quảng Trị) và kinh độ  111,018 Đông. Điều này đă phản ảnh sự hiểu biết về Hoàng Sa của người Phương Tây đă rất chính xác và Hoàng Sa không c̣n chung với quần đảo Trường Sa nữa.

Trên phần đất liền ghi hàng chữ dài: "An Nam Quốc Seu Imperium Anamiticum" cùng hàng chữ  "Cocincina interior" seu "An Nam Đàng Trong", ở phía Nam "Lũi Sầy" seu "Murus magnus separans Olim Utrumque regne " và "Cocincina exterior", Đàng Ngoài seu "Tunquinum",  chứng tỏ nội dung bản đồ được vẽ không phải ở thời điểm 1838, mà đă được vẽ từ trước  đó.  Song bản đồ lại ghi các địa danh mới ra đời sau này như B́nh Định Thành, Định Tường Thành... nên năm vẽ An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ phải sau khi Nguyễn Aùnh đă chiếm thành Qui Nhơn.

Bản đồ vẽ bờ biển miền Nam Trung Bộ rất chính xác, c̣n miền Bắc, nhất là giáp ranh với Lào chưa thật chính xác. Sự hiểu biết của người Tây Phương về Việt Nam rất phong phú. Dù sao cho tới đầu thế kỷ XIX, người Phương Tây đă biết rất rơ về Việt Nam và Hoàng Sa.

·        The Journal of the Asiatic Society of Bengal , Vol VI đă đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels) .

The Journal of the Asiatic Society of Bengal là tờ báo của Hội Á Châu của người Anh ở xứ Bengal. Trong số báo 6 và 7 của báo này đă có đăng bài viết dài về Hoàng Sa của Việt Nam bằng Anh ngữ của giám mục Taberd với tiêu đề : Pracel or Paracels (Cồn Vàng) có nội dung như sau: “Pracel hoặc Paracels (Cồn Vàng). Tuy  rằng cái thứ quần đảo này không có ǵ ngoài đá tảng và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua Gia long đă nghĩ tăng lănh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bă này. Năm 1816, ông đă tới long trọng cắm cờ và chính thức giữ chủ quyền các ḥn đá này, mà h́nh như không một ai tranh giành với ông”[36, trg 11] (thực ra đây chỉ là một lần nữa Việt Nam lại tiếp tục tự khẳng định chủ quyền của ḿnh ở quần đảo Hoàng Sa mà thôi).

·        “The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels. GutzLaff đă viết bài báo “Geography of the Cochinchine Empire” đăng trong  The Journal of the Geographical Society of London, trong vol. the 19th năm 1849, trang 97 có đoạn khá dài về Hoàng Sa như sau:

“Đây chúng tôi đáng lẽ không kể đến quần-đảo  Cát Vàng nó ở gần bờ bể An-nam 15 đến 20 dặm và lan giữa các vĩ-tuyến 15 và 17 độ Bắc, và các kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, nếu Vua xứ Cochin-china  đă không đ̣i quần-đảo ấy là của ḿnh, với nhiều đảo và ghềnh rất nguy-hiểm cho người hàng-hải. Không biết v́ san hô hay v́ lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần; nhưng rơ-ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đă có người ở vĩnh-viễn, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đă vỗ mạnh dập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá-trị nếu nghề chài ở đó không phồn-thịnh và không bù hết mọi nguy-nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền, phần lớn từ Hải-Nam tới, đă hằng năm đến thăm các băi nổi nầy và tiến-hành cuộc viễn-du xa xa đến tận bờ đảo Bornéo. Tuy rằng hằng  năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến đỗi không những bù hết mọi thiệt tḥi, mà c̣n để lại món lợi rất to. Chính-phủ An-Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế đă đặt ra, bèn lập ra những trưng-thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo-trợ người đánh cá bản-quốc. Vậy nên một cuộc giao-dịch lớn được dần dà gây nên và có cơ bành-trướng nhờ sự có rất nhiều cá tới trên các băi nầy đẻ trứng. Một vài đảo có cây-cối cằn-cỗi, nhưng thiếu nước ngọt ; và những thủy-thủ nào quên mang theo nước trữ đầy đủ, thường bị lâm vào cơn khốn-đốn lớn”.

Tác giả c̣n viết rằng “Nếu vua xứ Cochinchina đă không đ̣i quần đảo ấy là của ḿnh với nhiều đảo và ghềnh nguy hiểm cho ngành hàng hải, th́ ông đă chẳng kể đến quần đảo Paracels (Cát Vàng) làm ǵ” [36,trg 12],[157].

Tuy tác giả ước lượng không chính xác khoảng cách từ bờ biển Việt Nam 15 - 20 dặm (Anh), song điều may mắn là tác giả lại định tọa độ rất chính xác giữa 150-170  độ Bắc và 1110- 1130 kinh độ Đông.

Như vậy, tác giả  đă cho biết rơ rằng chính phủ Việt Nam đă thực thi chủ quyền của ḿnh qua việc lập ra những trưng thuyền và thành lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam. Đối chiếu với sử liệu  Việt Nam, năm 1816 là năm đầu tiên vua Gia Long sai thủy quân thay v́ đội Hoàng Sa hoạt động ở Hoàng Sa. Chính sự kiện này mà người Phương Tây cho rằng rất quan trọng, đáng lẽ phải viết năm 1816 quân của vua Gia Long, lại viết chính vua Gia Long long trọng xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa.

Khi phân tích các tư liệu Việt Nam và các tư liệu nước ngoài cũng như của Trung Quốc, chúng ta thấy rất rơ hầu hết tư liệu Việt Nam đều là tư liệu của nhà nước, minh xác rất rơ việc xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam qua các hoạt động khai thác kinh tế, cụ thể hoạt động của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải do nhà nước quản lư, các hoạt động của dân các tỉnh miền Trung như Quảng ngăi, B́nh Định, B́nh Thuận… cùng các hoạt động của thủy quân, giám thành như xây dựng miếu, trồng cây, dựng bia, đặt cột mốc, đo đạc thủy tŕnh …

C̣n tài liệu nước ngoài trong đó có cả tài liệu Trung Quốc, phần lớn là nguồn  nhân. Theo đó các nhà tu, nhà buôn, thám hiểm cũng đều khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa)  là Paracel và chính quyền Việt Nam đă thực thi chủ quyền của ḿnh qua các thời đại.

[end – Nguyen Phung Hung]

 

C2.7 [Start – Nguyen Phung Hung – 2035 words]

2.2  SỰ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG XÁC LẬP CHỦ QUYỀN CỦA CÁC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.

2.2.1 Sự khẳng định chuû quyền Hoàng Sa, Trường Sa của vua chúa, triều đ́nh Việt Nam.

Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rơ vua, triều đ́nh Trung Quốc khẳng định chủ quyền của ḿnh ở Hoàng Sa và Trường Sa, th́ tài liệu chính sử 

của Việt Nam cho thấy vua và triều đ́nh Việt Nam đă nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lănh hải Việt Nam. Các tài liệu chính thức của

nhà nước Việt Nam, của triều đ́nh Việt Nam như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đă ghi nhận rất rơ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đ́nh Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam.

Tỷ như tháng 8 mùa thu năm Qúi Tỵ Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng bảo Bộ Công rằng: “Dải Hoàng Sa trong vùng biển Quảng Ngăi...” (Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 104). Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh) Bộ Công tâu lên vua : “Xứ  Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta rất là hiểm yếu ( Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165). Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) phúc tấu của Bộ Công cũng đă khẳng định : “Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền văng thám  Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà  ...” (tập Châu Bản Thiệu Trị tập 51, trang 235). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng đă chép một cách rơ ràng : “Phía Đông (tỉnh Quảng Ngăi) chạy ngang đến đảo cát :đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh ...”

2.2.2 Việc quản lư hành chánh của các chính quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một, luôn được quản lư hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa  hay Ngăi  lúc là phủ,  khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Bởi từ khi  Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc  Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa  chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ  Thừa tuyên Quảng Nam của  Đại Việt, do vua Lê trị v́ . Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt và trước hết trên danh nghĩa thuộc Thừa Tuyên, Quảng Nam quản hạt. Năm 1602, với tính cách tự trị, tự quản, Nguyễn Hoàng lại đặt thành dinh  Quảng Nam, quản hạt  phủ Quảng Nghĩa (hay Ngăi)  (trước đó là phủ Tư Nghĩa). Cũng từ năm 1602, phủ Quảng Nghĩa có chức  tuần phủ   khánh lư cai trị.

Như thế, trên thực tế tự trị trên, Phủ Quảng Nghĩa có huyện B́nh Sơn  (trước đó là huyện B́nh Dương) quản lư xă An Vĩnh. Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đă ghi "Băi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn chép "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa  (thuộc dinh Quảng Nam) huyện B́nh Sơn, xă An Vĩnh"  Địa Dư Chí của Phan Huy Chú chép "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn từ 1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà Nghĩa.

Năm 1801, Hoà Nghĩa đă được gọi lại với tên Quảng Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngăi đọc chệch). Tại phủ Quảng Nghĩa ngoài viên tuần phủ, khánh lư c̣n có một viên chính hộ lư, một viên đề lănh, một viên  lục, một viên cai phủ và một viên thư kư. Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục quản lư xă An Vĩnh. Dần dần xă An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xă An Vĩnh, An Hải di dân ra  Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Aûnh được cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa  năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xă Lư Vĩnh thuộc huyện đảo Lư Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đă xác nhận đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngăi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.

2.2.3 Sự thành lập và hoạt động của đội Hoàng Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam, đội Hoàng Sa đă hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có  nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa.

2.2.3.1 Địa bàn ra đời của đội Hoàng Sa là ở vùng cửa biển Sa Kỳ (h́nh 2.51) và Cù Lao Ré.

Trước hết Cù Lao Ré (2.21) (h́nh 2.52) c̣n gọi là Lư Sơn, người Bồ Đào Nha gọi là Pulo Catah, người Trung Quốc gọi là Ngoại La. Cù Lao Ré ở vĩ độ 15040 Bắc và kinh độ 1090 Đông, nằm về phía Đông Bắc vịnh Dung Quất, cách thủ phủ Quảng Ngăi 50km, cách cửa biển Sa Kỳ khoảng 27 km. Xa về phía Bắc là Cù Lao Chàm, phía Nam là đảo Phú Quí.

Đảo Cù Lao Ré h́nh đa giác không đều cạnh, chiều dài lớn nhất 7 km, chiều ngang 3 km, diện tích gần 11km2 (2.22).  Núi chiếm 1/4 ở bốn chung quanh, trống ở giữa, gồm 5 ngọn : Ḥn Tiền, ḤnTai, Ḥn Sỏi, Ḥn Vung  và lớn nhất là Thới Lới. Về phía Tây Bắc, ngoài biển c̣n có Ḥn Bé, phía Đông là Ḥn Mù Cu. Tại Ḥn Bé có đất trồng trọt , có giếng nước ngọt ngay sát bờ biển. Ở ngoài biển quanh đảo có san hô và có những hải sản qúi như hải sâm (đồn đột), đảo trồng nhiều lạc và ngô, bây giờ trồng hành tỏi.

Dân cư sống ở đây từ lâu đời, c̣n di tích văn hoá Sa Huỳnh  gồm các mảnh gốm, các mộ chum cách nay hơn 2000 năm(2.23) và văn hoá Chăm. Theo gia phả các ḍng ho,ï những người Việt đầu tiên di dân ra đảo vào đầu thế kỷ XVII từ vùng cửa biển Sa Kỳ ở đất liền tiến ra.

Có 2 nhóm dân chiếm 2 vùng khác nhau của đảo. Sáu họ  (lục tộc) của làng  An Vĩnh  (huyện Sơn Tịnh) ra ở phường An Vĩnh, nay là Lư Vĩnh và bảy hộ (thất tộc) của làng An Hải (huyện B́nh Sơn) ra ở phường An Hải, nay là làng Lư Hải (2.24). Tại chùa Hang c̣n gọi là “Thiên Khổng Thạch Tự” ở núi Thới Lới, có thờ các vị tiên hiền khẩn hoang, mở đầu của phường An Vĩnh (Lư Vĩnh) và An Hải (Lư Hải). Dần dần, dân các nơi thậm chí cả vùng Gia Định cũng đến đây định cư. Theo gia phả họ Phạm Văn (thôn Tây Lư Vĩnh) cho biết các vị tiên hiền ra đảo lập nghiệp vào năm Hoàng Định thứ 9 (1609). Dân các phường An Vĩnh, An Hải đă nhiều đời sinh ra và lớn lên  ở Cù Lao Ré nhưng họ vẫn phải chịu đầy đủ mọi nghĩa vụ với làng quê gốc ḿnh ở đất liền. Măi đến năm Gia Long thứ 3 (1804), hai phường An Vĩnh và An Hải mới thực sự được tách ra thành các đơn vị hành chính độc lập với làng quê gốc , theo đơn của các viên chức phường An Vĩnh xin tách khỏi  xă An Vĩnh. Tài liệu này c̣n được lưu giữ tại nhà thờ họ Phạm Quang, phường An Vĩnh, nay là xứ Lư Vĩnh, huyện Lư Sơn [ 87 ]  [88]

Đối diện với Cù Lao Ré ở đất liền là vùng cửa biển Sa Kỳ và mũi Ba Làng An (Batangan) ở vị trí nhô ra biển với kinh độ ở gần quần đảo Hoàng Sa nhất so với các nơi ở bờ biển Trung Bộ của Việt Nam, lại là địa bàn của làng quê gốc của dân Cù Lao Ré. Đóù là xă An Vĩnh ở một bên bờ cửa biển Sa Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh, và phía Bắc là xă An Hải thuộc huyện B́nh Sơn, Quảng Ngăi. Xă An Vĩnh gồm đất liền ở cửa biển Sa Kỳ và phường An Vĩnh, xă An Hải cũng thế, gồm phường An Hải ở Cù Lao Ré  mà đến đời Gia Long thứ 3 (1804) mới tách ra như nói trên. Tại phía Nam cửa biển Sa Kỳ c̣n di tích Vườn Đồn, nơi đồn Biển Sa Kỳ xưa. Tại đây cũng c̣n di tích miếu Cá Ông và di tích đ́nh của xă An Vĩnh xưa (nay là thôn An Vĩnh, xă Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngăi). 

Vùng cửa biển Sa Kỳ bao gồm cửa biển,  không có sông chảy ra nên không có hiện tượng cát bồi, có độ sâu tương đối tốt để làm cảng (thuyền) thời bấy giờ. V́ thế, hai bên cửa biển thuận lợi cho dân cư sinh sống, nhất là bờ phía Nam, xă An Vĩnh, sống về  nghề biển và cả nông nghiệp, cách phủ lỵ Quảng Ngăi gần 30km. Bờ phía Bắc thuộc xă An Hải, ít trù phú, ít dân cư hơn.

Những hải sản qúi ở vùng Cù Lao Ré như hải sâm, đồi mồi có nơi tiêu thụ dễ, gần đó là đô thị Hội An ở phía Bắc. Vùng cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré cũng dễ dàng được cung cấp các vật liệu làm thuyền buồm như tre, lá, gỗ, kể cả gỗ kiền kiền làm cột buồm từ vùng rừng núi Quảng Ngăi, Quảng Nam ở cách không xa.

Hoàn cảnh địa lư tự nhiên, từ vị trí, địa thế  cũng như nhân văn nói trên của vùng cửa biển Sa Kỳ- Cù Lao Ré khiến dân cư ở đó giỏi đi biển, thường đi t́m những hải sản qúi như hải sâm, ốc tai tượng ngay ở vùng kế cận Cù Lao Ré. Hiển nhiên những nơi như Hoàng Sa đầy ắp những hải sản tất sẽ có sức hút những cư dân trên đi tới. Đó cũng là lư do đầu tiên khiến Cù Lao Ré - cửa biển Sa Kỳ là cái nôi ra đời của đội Hoàng Sa.

[End – Nguyen Phung Hung]

 

C2.8 [Start – Thanh Dang – 1889 words]

Ngoài ra, do hoàn cảnh lịch sử của xứ Đàng Trong, muốn tồn tại, từ thời Nguyễn Hoàng đă nghĩ đến phát triển giao thương ra biển khơi, tạo điều kiện phát triển mạnh của đô thị giao thương quốc tế Hội An với sự có mặt của người Nhật, Trung Quốc, nhất là người phương Tây (từ đầu thế kỷ XVI phát triển giao thương về phương Đông, khi thiết lập được các thương điếm từ Malacca đến Macao). Trận thủy chiến với người Hà Lan (hợp tác với quân Trịnh) ở gần cửa Thuận An thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đă thúc đẩy xứ Đàng Trong phải có kế hoạch thường xuyên thu lượm không  những hải sản qúi mà c̣n sản vật do đắm tàu, nhất là súng ống để tăng cường sức mạnh trong cuộc chiến tranh với họ Trịnh ở Đàng Ngoài.

2.2.3.2. Thời gian hoạt động của đội Hoàng Sa.

 Về thời gian bắt đầu ra đời của đội Hoàng Sa, các sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải Ngoại Kỷ Sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đă có những hoạt động của đội “Hoàng Sa” và Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776, chép “Tiền Nguyễn Thị”. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (1821) chép “Quốc sơ trí Hoàng Sa”.  Tất nhiên việc thành lập đội Hoàng Sa phải có trước hoặc trong thời    Chúa Nguyễn Phúc Tần  (1648-1687), tức là trước “hoặc trong thời ra đời” cuốn sách Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (năm 1686), đă chép bắt đầu các hoạt động ở  Hoàng Sa. Đó chính là thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) hay chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) hoặc chính trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần.

Theo sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn, Nguyễn Hoàng vào năm Hoàng Định năm thứ 3 (1602) mới  đi chơi núi Hải Vân, thấy núi non hiểm trở nói rằng : “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”. Rồi vượt qua núi, xem xét h́nh thế, đến tận đất xă Câu Húc  thuộc Duy Xuyên hiện nay, sai người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên đến  trấn giữ dinh Quảng Nam này. Từ đó cho đến khi mất vào năm 1613, mọi việc ở phía Nam đèo Hải Vân đều giao cho Nguyễn Phúc Nguyên trực tiếp lo liệu.

Ngoài ra, như ta đă biết ở trên, Phủ Biên Tạp Lục cũng như các tài liệu khác đều cho biết  đội Hoàng Sa khi trở về đất liền vào tháng tám âm lịch vào cửa Eo hay Tư Hiền  rồi  nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xuân. Từ thời Nguyễn Phúc Nguyên tuy không c̣n ở Aùi Tử,  Quảng Trị  nữa mà mới vào vùng Phước Yên, Quảng Điền, bên bờ sông Bồ, chi nhánh của sông Hương, song chính dinh chưa tới Phú Xuân. Thời chúa  Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến Kim Long vào năm Dương Hoà năm đầu (1635) và thời chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân. Như thế, chúng ta có cơ sở để kết luận đội Hoàng Sa  ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648),  hay chắc chắn từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào thời kỳ này, các thuyền của đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo (Thuận An ) và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân.

Dù ở thời Chúa Nguyễn nào th́ thời điểm lập ra đội Hoàng Sa cũng chắc chắn ít ra là vào nửa đầu thế kỷ XVII, hoặc nói như sử sách vào đầu thời chúa Nguyễn.

Đội Hoàng Sa đă hoạt động kể  từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa Nguyễn,cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi. (2.25)

Phong trào Tây Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định th́ đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn mà trong tài liệu c̣n lưu giữ tại nhà thờ họ Vơ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré đă cho biết năm 1786 Thái Đức năm thứ 9,  dân Cù Lao Ré  đă xin chính quyền Tây Sơn cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại.[ 88 ]  .Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của đội Hoàng Sa  cũng bị ảnh hưởng, nên đến khi Gia Long năm thứ 2 (1803) mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại như Đại Nam Thực Lục Chính Biên, quyển XXII đă ghi rơ:”cai cơ Vơ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.Năm 1815, vua Gia Long sai đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy tŕnh ở Hoàng Sa.

Từ năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cử thủy quân cùng với đội Hoàng Sa, không c̣n giao phó hoàn toàn cho đội Hoàng Sa  lo kiểm soát, đo đạc thủy tŕnh ở Hoàng sa. Đội Hoàng Sa trở thành tổ chức mang tính dân sự nhiều hơn. Theo truyền thống, dân Cù Lao Ré vẫn tiếp tục đi biển trong đó có vùng Hoàng Sa có nhiều sản vật qúi. Không có một văn bản  nào ghi lại việc quyết định băi bỏ đội Hoàng Sa ngoài Việt Sử Cương Giám Khảo Lược soạn năm 1877 của Nguyễn Thông cho biết đội Hoàng Sa bị băi bỏ từ lâu, trước năm soạn cuốn sách này (1877). Thời Tự Đức, người ta không thấy biên niên sử c̣n chép các hoạt động của đội Hoàng Sa, v́ theo phàm lệ của Đại Nam Thực Lục đệ tứ kỷ chép vào đời Tự Đức, những việc thành lệ thường không được chép nữa mà thôi. Những hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như thủy quân từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đă trở thành lệ thường, như đă chép trong sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ

Ngoài ra có văn tế sống lính đội Hoàng Sa thời vua Tự Đức c̣n lưu lại ở đảo Cù Lao Ré. Tóm lại tuy không biết thời gian chính xác đội Hoàng Sa đă ngưng hoạt động, chỉ biết vào năm 1877, khi Nguyễn Thông viết sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược th́ đội Hoàng Sa đă bị băi bỏ từ lâu rồi. Từ năm 1816, thủy quân đă đảm trách những việc xem xét, đo đạc thuỷ tŕnh, không c̣n giao phó hoàn toàn cho đội Hoàng Sa như trước nữa.

Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những tài liệu như Dư Địa Chí, Hoàng Việt Địa Dư Chí, Đại Nam Thực Lục Tiên Biên, Đại Nam Nhất Thống Chí, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch th́ về. Riêng theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư  hay  Toản Tập An Nam Lộ th́ lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; theo Phủ Biên Tạp Lục có bản đồ thường đi vào tháng giêng âm lịch đến tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng, chép tháng giêng là nhầm). Từ tháng 3 đến tháng 8 tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch ở Quảng Ngăi là mùa khô, có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất là vùng Quảng Ngăi lại  chỉ có băo trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế việc chọn thời gian hoạt động trên của đội  Hoàng Sa là  một lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân. Đến tháng 8 gió Tây Nam yếu, chuyển qua gió Đông Bắc th́ thuyền của đội Hoàng Sa trở về vào cửa Eo để nộp sản phẩm ở chính dinh là đúng lúc, hợp lư nhất. Lúc đầu đi sớm quá không thấy lợi, nên dời đến tháng 3 là điều hợp lư. Song chấm dứt vào tháng 8 để tránh băo là điều rất khôn ngoan của tiền nhân ta. Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm. Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí 3, 4 ngày đêm. Thời gian trên đều là thời gian thực tế đối với loại thuyền buồm nhẹ chạy nhanh  khởi hành từ đất liền hay Cù Lao Ré đến đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên trong suốt 6 tháng hoạt động, đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, suốt các đảo từ phía Bắc. Riêng các ḥn đảo xa phía Nam, ở cuối quần đảo Trường Sa hiện nay là Côn Đảo, Hà Tiên th́ đă có đội Bắc Hải phụ trách và cũng lệ thuộc vào đội Hoàng Sa.

Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong khu vực  nhiều băo tố, nên điều kiện lúc bấy giờ không cho phép  trú cả năm mà phải theo mùa. Như thế, quá tŕnh hoạt động của đội Hoàng Sa cũng là quá tŕnh xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kéo dài từ đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX  và theo luật lệ rơ ràng của nhà nước Việt Nam.

 

 

Bảng 2.1 BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC DỮ KIỆN CỦA CÁC TÀI LIỆU VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI HOÀNG SA .

 

Tên tài liệu

 

Số lượng

người

(suất đinh)

 

Số chiếc thuyền

 

Thời gian đi

 

 

Thời gian về

Thời gian đi đường

Thời gian hoạt động

 

Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư  hay Toản Tập An Nam Lộ

Không ghi

18

Cuối Đông âm lịch

Không ghi

Một ngày rưỡi

(có dị bản ghi nhầm nửa ngày)

 

Không rơ

Phủ Biên tạp Lục

70 (xă An Vĩnh)

5 thuyền câu nhỏ

Tháng  3 (có dị bản ghi nhầm tháng Giêng âm lịch, tháng 2 dương lịch)

Tháng 8 âm lịch (tháng 9 dương lịch)

3ngày đêm

6 tháng

 

Dư Địa Chí (Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí )

70 (xă An Vĩnh)

5 chiếc nhỏ

Tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch)

Tháng 8 âm lịch (tháng 9 dương lịch)

3 ngày  đêm

6 tháng

 (lương thực được cấp phát)

Hoàng Việt Dư Địa Chí

70 (xă An Vĩnh)

5 chiếc nhỏ

Tháng 3 âm lịch

Tháng 8 âm lịch

3 ngày  đêm

6 tháng (lương thực được cấp phát)

Đại nam Thực Lục Tiền Biên 

70 (xă An Vĩnh)

Không ghi

Tháng 3 âm lịch

Tháng 8 âm lịch

3 ngày  đêm

6 tháng

Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4

(không ghi số lượng) hộ  An Hải và An Vĩnh

Không ghi

Tháng 2 âm lịch

Tháng 8 âm lịch

Không ghi

7 tháng

(ghi nhầm)

 

Đaị Nam Nhất Thống Chí

70 (xă An Vĩnh)

Không ghi

Tháng 3 âm lịch

Tháng 8 âm lịch

3,4 ngày đêm (nếu thuận gió)

6 tháng

 

[End – Thanh Dang]

 

C2.9 [Start – Hoang Truong Sa -  2041 words]

2.2.3.3.  Nhiệm vụ của đội Hoàng Sa.

Về nhiệm vụ, đội Hoàng Sa cần phải làm những công việc sau:

1.   Thu lượm các sản vật từ các tàu đắm, các hải sản qúi từ vùng biển phía Bắc quần đảo Hoàng Sa (phía Nam tức phần Trường Sa hiện nay do đội Bắc Hải phụ trách).

2.   Kiêm quản, trông coi đội khác cùng làm nhiệm vụ song ở địa bàn khác như đội Bắc Hải ở phía Nam. (Phủ Biên tạp Lục, quyển 2, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 10, Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6..). Ngoài ra, về sau c̣n đảm trách đi xem xét, đo đạc thủy tŕnh vùng quần đảo Hoàng Sa. Nhiệm vụ này bắt đầu thời Gia Long mới được ghi (Đại Nam Thực Lục Tiên Biên đệ nhất kỷ, quyển 50, quyển 52).

3.   Riêng về nhiệm vụ dọ thám ngoài biển, giữ ǵn ngoài biển, tŕnh báo về các bọn thổ phỉ ngoài biển  th́ đơn xin phường An Vĩnh tách khỏi xă An Vĩnh ngày 1 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) đă đề cập đến ở trên đây, chứng tỏ người dân đă tha thiết tự thấy có nhiệm vụ này. Đương nhiên nhà nước được dân binh t́nh nguyện th́ dễ chấp nhận v́ đâu có mất mát ǵ, vả lại tính chất bán quân sự của đội Hoàng Sa đương nhiên phù hợp với nhiệm vụ này. Ngoài ra  chức cai đội Hoàng Sa kiêm chức cai cơ Thủ Ngự mà Thủ Ngự lại có nhiệm vụ do thám ngoài biển. Nhiều tài liệu cho  biết cai đội Hoàng Sa kiêm quản cai cơ thủ ngự như Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển XXIIghi rơ: Vơơ Văn Phú được  sai tái  lập đội Hoàng Sa chính khi ấy là thủ ngự cửa biển Sa Kỳ.

Như thế nhiệm vụ của đội Hoàng Sa rất nặng nề, không thuần túy về kinh tế, khai thác tài nguyên mà c̣n làm công tác xem xét, đo đạc thuỷ tŕnh, ḍ thám trên quần đảo Hoàng Sa, nhất là trong thời các chúa Nguyễn và thời kỳ đầu nhà Nguyễn. Chính từ  công tác kiêm quản của đội Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải cho ta có quan niệm về quản lư Biển Đông của chính quyền Chúa Nguyễn và buổi đầu nhà Nguyễn thời ấy. Dân vùng cửa biển Sa Kỳ, cũng như dân Cù Lao Ré rơ ràng rất giỏi nghề đi biển xa mà thời nay gọi là “viễn dương”, mà vị trí địa lư vùng này (Sa Kỳ, Cù Lao Ré) lại là nơi nhô ra Biển Đông xa nhất. Cũng như dân đất liền thời mở cơi ấy, dân cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré (Quảng Ngăi) được chính quyền thời Chúa Nguyễn tín nhiệm giao trọng trách khai khẩn tới đâu, quản lư tới đó, c̣n được giao nhiệm vụ khác: kiêm quản.

2.2.3.4 Tổ chức và nội dung hoạt động của đội Hoàng Sa

Về tổ chức, Đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh vừa  mang tính dân sự vừa mang tính quân sự; vừa mang tính tư nhân vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lư thời ấy ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để  mở đất khai hoang mà người đứng đầu đơn vị hành chánh lớn nhất là chưởng dinh. Cần có dinh lũy để vừa cai quản về hành chánh, khai hoang vừa chỉ huy quân sự sẵn sàng chiến đấu. Đây là một tổ chức đặc biệt ở Đàng Trong cũng như những tổ chức khác dưới triều Nguyễn như các sở đồn điền khẩn hoang, mà đứng đầu mỗi đồn điền là một quản cơ .

Thời chúa Nguyễn, theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn  quyển 3, có nhiều tổ chức dân binh  như  đội thủ ngự (đội coi về canh gác, ngăn chặn trộm cướp),  đội thổ binh.

Do đội  một tổ chức dân binh nên tổ chức phải thể hiện h́nh thức tổ chức quân sự  của Đàng Trong.

Theo binh chế ở Đàng Trong, ngoài chính binh (tinh binh c̣n gọi là nội binh), các quan trấn thủ, lưu thủ ở địa phương thường lấy dân địa phương làm binh canh giữ các nơi, gọi là ngoại binh (binh ấy c̣n gọi là thổ binh hoặc tạm binh, hoặc thuộc binh). Số binh này rất đông, gấp mấy lần chánh binh mà lại không được trả lương tháng như chánh binh, họ chỉ được miễn sưu thuế mà thôi. Phiên chế gồm dinh, cơ, đội, thuyền. Thuyền là đơn vị thấp nhất. Mỗi đội gồm từ 50 , 60 hoặc 40, 50 người. Điều khiển đội có cai đội và đội trưởng. Đứng đầu đội Hoàng Sa là một cai đội, những thành viên trong đội được gọi là quân nhân, đă thể hiện tính quân sự hoá trên. V́ thế có dịch giả Phương Tây dịch đội Hoàng Salà "compagnie Hoàng Sa", phải hiểu là một tổ chức quân đội, chứ không phải là tổ chức hội buôn, mới đúng.

Thời Chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất  đinh để làm những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên, song c̣n dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa. Cũng theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn đă gọi quân nhân  để chỉ những người trong đội Hoàng Sa, trong đó có 2 người bị trôi dạt vào Cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị băo vào năm Càn Long thứ 17 (1754), c̣n tám người khác bị mất tích. Như thế mỗi thuyền trong đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người.

Tại xă An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xă Tự Kỳ c̣n di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳngôi  miếu Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu của con cá voi, (tương truyền do binh Hoàng Sa đưa từ Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng Sa , ngôi miếu này bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.

Tại Cù Lao Ré nay là huyện đảo Lư Sơn vẫn c̣n Âm Linh Tự tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây xă Lư Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưa và Âm Linh Tự ngoài trời ở xă Lư Hải tức phường An Hải xưa.  Cũng tại xă An Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đ́nh và làm lễ khao quân tế sống  để tiễn lính đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đ́nh làng. Hiện nay chỉ c̣n đ́nh làng xă Lư Hải, tức phường An Hải xưa (xem h́nh 2.53 ). Lính Hoàng Sa được tế sống v́ nhiệm vụ quá nguy hiểm: "lính Hoàng Sa đi dễ khó về". Trừ các chỉ huy như đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia đ́nh, vừa khoẻ mạnh vừa không vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xă Tự Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao Ré có nhiều gia đ́nh c̣n gia phả và bàn thờ những người đi lính Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xă Lư Vĩnh có nhà thờ (h́nh 2. 54) và gia phả ông tổ Phạm Quang Aûnh, người được vua Gia Long cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815.

Trong buổi tế sống lính Hoàng Sa đó, họ làm những h́nh nộm bằng khung tre và dán giấy ngũ sắc để giả h́nh người và đem tế tại đ́nh. Tế xong họ đốt đi, hoặc đóng thuyền bằng thân cây chuối đặt h́nh nộm lên và thả trôi ra biển gọi là “khao lễ thế lính Hoàng Sa” c̣n gọi là "lễ tế sống lính Hoàng Sa"  với quan niệm các h́nh nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy, tai nạn trên biển thay cho đội Hoàng Sa và cầu mong cho người thân của họ b́nh an trở về . Ngày nay tại các nhà thờ tộc họ có người đi lính Hoàng Sa đều có tổ chức tục lễ như thế và hiện tại gia đ́nh các tộc họ cũng c̣n giữ bài Văn Khao Thế Lính Hoàng Sa gồm  một nửa chữ Hán, một nửa chữ Nôm có đoạn :

“Ngày hôm nay (hoặc đêm nay, buổi sáng nay) có theo ư người  ______      tỉnh ______ nước Đại Nam, xin cúng thế một cỗ thuyền mô h́nh, trôi theo đường thủy Hoàng Sa, mấy cỗ bàn, vàng bạc, đáp lễ thần quan, xin dâng lên  khảo thủy đạo một tiệc, thành kính bày lễ la liệt...” Văn tế do ông Nguyễn Xuân Cảnh, 72 tuổi, thôn Tây, xă Lư Hải, huyện Lư Sơn  cất giữ. [  88  ]

Về địa bàn hoạt động, đội Hoàng Sa có không gian rất rộng. Khởi đầu những đảo gần bờ biển nhất. Song trong 6 tháng  hàng năm từ năm này qua năm khác, đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa  và kiêm quản đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ.

Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc)  th́ các đảo  ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên.  Dù chính đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự chính ḿnh đi khắp nơi song lại kiêm quản các đội khác (như đội Bắc Hải) th́ phạm vi hoạt động rơ ràng rất rộng, khắp các đảo Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung Bộ Việt Nam khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ  phía Tây Nam  đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.

Các nhà cầm quyền Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII  đă biết rằng Hoàng Sa hay Băi Cát Vàng hoặc Vạn Lư Trường Sa là một dải dài hàng ngàn, vạn dặm chạy dọc Biển Đông. Khái niệm chung nhất này cũng ở việc giao nhiệm vụ cho đội Hoàng Sa, đứng đầu là cai đội hay đội trưởng do nhà nước bổ dụng, được kiêm quản đội Bắc Hải ở Phía Nam cùng nhiệm vụ để thâu tóm vào một đầu mối. Đây cũng là một quan điểm về quản lư các hoạt động kinh tế tại Biển Đông của nước ta thời ấy.

Như tŕnh bày trên, v́ đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh có nhiều chức năng, nhiệm vụ đặc biệt ở Biển Đông, nên tổ chức này cũng rất đặc biệt. Đứng đầu là cai đội như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 đă ghi : “Lịnh cai đội Hoàng Sa tính quản”. Như binh chế thời chúa Nguyễn mà chúng ta đă biết đội có cai đội và đội trưởng chỉ huy. Chức cai đội Hoàng Sa thường được kiêm luôn các chức khác như trường hợp Phú Nhuận Hầu  kiêm cai thủ đồn cửa biển Sa Kỳ, kiêm cai cơ  thủ ngự, như theo tài liệu tờ kê tŕnh của Phú Nhuận Hầu, ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), tài liệu hiện lưu trữ tại nhà thờ họ Vơ phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xă Lư Vĩnh, huyện Lư Sơn, tỉnh Quảng Ngăi  . Thủ ngự là đơn vị cai quản, tuần tra chống trộm cướp thời Nguyễn.

Tùy theo mỗi năm, số thuyền đi từ 4 hay 5 chiếc đến 18 chiếc. Mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản. Thuyền cũng là đơn vị nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn như chúng ta đă từng biết.

[End – Hoang Truong Sa]

 

C2.10 [Start – Saudong – 2579 words]

Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền , đều là dân binh được gọi là “quân nhân” như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 ghi chép như đă tŕnh bày ở trên. Những quân nhân này chủ yếu là dân gốc xă An Vĩnh và một phần là dân xă An Hải ở đất liền và ngoài đảo Cù Lao Ré.

Xă An Vĩnh và xă An Hải ở hai bên cửa biển Sa Kỳ. Cùng với 2 phường An Vĩnh và phường An Hải  do di dân đất liền ra Cù Lao Ré, trong đó xă An Vĩnh là chính, cung cấp dân binh cho đội Hoàng Sa. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến  xă An Vĩnh, chỉ riêng Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến hai hộ An Hải và An Vĩnh tức hai phường  An Vĩnh và An Hải ở đảo Lư Sơn hay Cù Lao Ré.

Theo lời truyền miệng của dân địa phương Cù Lao Ré để lại,  cho biết việc tuyển lựa 70 suất của đội Hoàng Sa theo nguyên tắc định suất cho các ḍng họ. Song cụ thể vẫn là theo lệ bổ tuyển quân nhân thời Chúa Nguyễn. Những người gọi  quân nhân  ấy được tuyển theo hệ thống xă, huyện, phủ. Do phải  luân phiên, nên hàng năm các đội Hoàng Sa phải lo điều chỉnh quân số sao cho đảm bảo lệ này. Các  quân nhân đội Hoàng Sa có nghĩa vụ của một dân binh b́nh thường, không giống như binh lính chính qui, về mặt quyền lợi, ngoài việc được miễn sưu thuế, họ c̣n được hưởng phần dư, phần c̣n  lại ngoài số qui định phải nộp cho Nhà Nước. Lương thực mang đi cho 6 tháng được nhà nước cấp phát. Song chủ yếu là gạo c̣n thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang củi lửa và theo lối truyền thống, bọn họ dấu những bếp ở mỗi thuyền bằng các nùi dây dừa khô giữ lửa lâu. Đời sống của quân nhân trong đó có đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dân theo như Thích Đại Sán đăơ tả, rất khổ, phải nộp vào công khố bảy tám phần mười  hoa lợi. "Người làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai trưởng. Bọn này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp lúc nhà nước có việc công, cai xă bắt dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo cơm đơm, gạo bới đi làm”.

Các quân nhân đội Hoàng Sa c̣n mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đ̣n tre. Nếu chẳng may có mệnh  một ở giữa biển th́ dùng chiếu ấy quấn xác, đ̣n tre dùng làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rơ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người mất được cài kỹ trong bó chiếu, cũng là dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt được [ 88 ]

Đội Hoàng Sa sử dụng các loại thuyền buồm nhẹ và nhanh. Theo J. Barrow viết trong "A voyage to Cochichina" th́ các tàu thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels thuộc nhiều kiểu dạng khác nhau .

Cũng theo cuốn du kư  Suma Oriental” của người Bồ (Tomé Pires), được A. Cortesas dịch với nhan đề “ The Suma Oriental, an account of the East, from the Red Sea to Japan", xuất bản tại London năm 1944, khoảng những năm 1513- 1514 kể lại cuộc hành tŕnh và những nhận xét của tác giả về các miền đất đă đi qua ở Phương Đông từ Biển Đỏ cho tới Nhật Bản, trong đó có tả vương quốc Cauchy - chyna tức Đàng Trong nước Đại Việt thời Lê - Mạc. Tác giả cho biết có rất nhiều   cư dân khai phá vùng bờ biển  với một số lớn các “lancharas”, một loại thuyền buồm đi nhanh.

Trong các tài liệu cổ của Việt Nam đă dẫn trên cho biết đội Hoàng Sa chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ gọi là “ tiểu điếu thuyền” (Phủ Biên Tạp Lục ) hay “tiểu thuyền” ( Dư Địa Chí và Hoàng Việt Địa Dư Chí).

Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sưï như đă tŕnh bày ở trên, cũng viết “Thời quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền buôn tấp vào. Mùa thu nước ṛng cạn, chảy rút về hướng Đông, bị một ngọn sóng đưa thuyền đi có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió dâng mạnh, sợ có hiểm họa Trường Sa...”. [ 116 ,125 ]  Cũng trong Hải Ngoại Kỷ Sự, Thích Đại Sán có nói đến thuyền đánh cá ấy gọi là thuyền Điếu Xá. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đă cho thuyền Điếu Xá (thuyền đánh cá) đón tiếp đệ tử  vật hàng của Thích Đại Sán đến sau tại đảo Tiên Bích Sa (Cù  Lao Chàm).

Khi Thích Đại Sán rời Quảng Đông đi bằng loại thuyền lớn, chứa tới bốn trăm người phải dùng cả 2 chiếc thuyền nhỏ dẫn đường. Tuy thuyền đi mau như bay nhưng có lần bị mắc cạn, có lần suưt bị nạn v́ không theo lối thuyền con chỉ dẫn.

Căn cứ vào ghi chép của sách sử Việt Nam, phạm vi hoạt động của đội Hoàng Sa đi bằng thuyền này, ngoài quần đảo Lư Sơn ở đó có Hoàng Sa Chử, c̣n bao gồm đảo Chiêm Bà.

Thuyền đánh   thế kỷ XVII, XVIII ở nước Đại Việt giản dị nhất ở khu vực Sa Kỳ, Cù Lao Ré. Theo tài liệu được lưu lại ở đảo Cù Lao Ré mà ông Nguyễn Hạp xuất thân từ gia đ́nh ngư dân lâu đời ở Cù Lao Ré đă vẽ, th́ thuyền loại này có mê hay đáy dưới bằng tre đan rồi quét cứt trâu, rồi dầu rái lên. Song phía trên thành thuyền làm bằng gỗ tṛ hay sao, có 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền và các bộ phận không quan trọngï như các then th́ làm bằng gỗ mù u có sẵn ở địa phương. Chính dân chài tự đóng thuyền lấy. Tuy nhỏ song lại nhẹ dễ chạy nhanh và thường chạy bằng buồm, có loại buồm như Thích Đại Sán  kể giống chiếc ŕu. Nhỏ, nhẹ, ít người lại chọn thời điểm thuận gió th́ thuyền đi nhanh gấp 10 lần như Thích Đại Sán ghi chép như trên. Thường thuyền ở khu Cù Lao Ré - Sa Kỳ có 3 cánh buồm đan bằng lá, các dụng cụ như  lu chứa nước đều bằng tre. Gần đây ở Cù Lao Ré c̣n thấy một vài thuyền đánh cá có cấu trúc tương tự như những thuyền truyền thống xưa của vùng này, đi biển xa như Hoàng Sa. (xem h́nh vẽ 2.55 và 2.56).

Sự thực lịch sử đă cho biết các thuyền đánh cá Việt Nam  với vật liệu nhẹ như trên, nhỏ bé đă dễ dàng né tránh các đá san hô cũng như dễ dàng cập được vào bờ các đảo san hô  ở Hoàng Sa và cũng thích hợp hoàn cảnh dân chài biển vùng Sa Kỳ - Cù Lao Ré, đă hoàn thành sứ mạng lịch sử của ḿnh.

Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên, đội Hoàng Sa thu lượm  trước hết những hải vật  qúi  lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như  chiếc chiếu, bụng có châu  ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai châu song vỏ ốc có thể tách ra từng  phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ , người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội , tức con đồi mồi rất lớn hay con hải  ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).

Những hải sản quí trên tuy cũng có nộp cho nhà vua theo qui định, song thường vẫn cho đội Hoàng Sa bán, thường th́ bán cho thị trường ở Hội An tiêu thụ nhiều và có giá hơn. 

Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư  viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều  là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ Biên Tạp Lục th́ ghi : những đồ hải vật như gươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, ch́ đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong , đồ sứ.

Lê Qúi Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hoá trong  Phủ Biên Tạp Lục có viết:  “ông tra khảo sổ biên của  cai đội Thuyên Đức Hầu” , người chỉ huy đội Hoàng Sa  trong nhiều năm đă vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa cụ thể như sau:

- Năm Nhâm Ngọ (1702) , đội Hoàng Sa lượm được bạc 30 thoi.

- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được thiếc 5100 cân.

-Năm Ất Dậu, lượm được bạc 126 thoi.

C̣n từ năm Kỹ Sửu (1709) đến năm Qúi Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được  mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.

Chính P. Poivre viết trong du kư năm 1750 rằng : “Người ta đă thấy ở đô thành Huế những khẩu súng thần công bằng sắt cỡ đạn 6 livres, có trang trí chữ  ghi của công ty Đông Aán Hà Lan, những khẩu súng này đă thu lượm được ở quần đảo Paracels, trong số các di vật của các tàu đi qua đây bị đắm". ( Journal R.E.O, III, 1885).[66,16]

Chắc chắn trong thời c̣n chiến tranh, súng đạn thu được ở các tàu đắm ở Hoàng Sa là rất qúi giá. Việc đi biển xa (viễn dương) khiến các thành viên đội Hoàng Sa rất giỏi đi biển. Chính từ thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị thủy quân hoạt động mạnh ở Hoàng Sa cũng đều nhờ những người hướng  dẫn hải tŕnh từ những dân đi biển giỏi trong đó có dân binh đội Hoàng Sa. Chính   thế, các thuyền thuộc lưu lượng thủy quân triều Nguyễn từ kinh thành Huế trước khi ra Hoàng Sa phải tới tập trung ở Quảng Ngăi.

2.2.4 Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản của đội Hoàng Sa trong khu vực phía nam của Biển Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận.

 Càng ngày càng có nhiều đội khác cũng có chức năng và nhiệm vụ như đội Bắc Hải được thành lập, v́ chính quyền Nhà Nguyễn dần dần t́m ra các đảo san hô hết sức rộng ở Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu mối, hầu có thể dễ dàng nắm t́nh h́nh ở Biển Đông.

Như thế người chỉ huy đội Hoàng Sa là cai đội phải là vị quan lớn như cai đội  Thuyên Đức Hầu   đă được Lê Qúi Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Qúi Tỵ). Thuyên Đức Hầu đă được phong tước hầu. Hoặc như Phú Nhuận  hầu cũng thế trong tờ tŕnh ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đă kiêm luôn “khâm sai cai thủ” cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức “cai cơ  thủ ngự”, kiêm quản đội Hoàng Sa  (tờ kê tŕnh của Phú Nhuận  hầu được lưu giữ tại nhà thờ họ Vơ, phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xă An Vĩnh, huyện Lư Sơn, tỉnh Quảng Ngăi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi  cửa biển, Thủ ngự  là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn. Chính Phú Nhuận hầu được giao nhiều chức vụ quan trọng. Cũng từ đó có uy tín để kiêm quản các đội khác như đội Bắc Hải.

Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Qúi Đôn đă ghi chép rất cụ thể việc đội Bắc Hải như sau:

“Họ Nguyễn c̣n thiết lập một đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ B́nh-Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh-Dương lấy những người t́nh nguyện bổ sung vào đội Bắc- Hải. Ai t́nh nguyện đi th́ cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác”

"Những người được bổ sung vào đội Bắc-hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đ̣.

Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc-hải, cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà-Tiên để t́m kiếm, lượm nhặt những hạng đồi-mội, hải-ba, đồn-ngư (cá heo lớn như con heo), lục-qúi-ngư, hải-sâm (con đỉa biển).

Như thế về tổ chức, đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất, số lượng tùy theo t́nh h́nh khả năng các thôn Tứ Chính thuộc phủ B́nh Thuận hay làng Cảnh Dương, t́nh nguyện và được cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động.

Quyền lợi cũng như đội khác được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền  đi qua đồn tuần, qua đ̣. Không thấy miễn tiền thuế. Cũng dùng thuyền  nhân, thuyền câu.  Phạm vi hoạt động ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay, và cả Côn Lôn, Hà Tiên.

Ở phía Nam Biển Đông khu vực Trường Sa hiện nay ít có băo lớn, không nguy hiểm, ít có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật từ tàu đắm như vàng bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt là loại cá heo (đồn ngư), ...

Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chép. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên  soạn xong năm 1844 chép rằng đội Bắc Hải mộ dân thôn B́nh Thuận, Tứ Chính hoặc xă Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngăi, soạn  xong năm 1882 cũng c̣n viết "đội Bắc Hải ra  đảo Côn Lôn t́m lấy hải vật cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản". Không có tài liệu nào cho biết đội Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau đội Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn đội Bắc Hải ra đời sau đội Hoàng Sa và trước năm 1776 tức là trước khi Lê Qúi Đôn viết Phủ biên Tạp Lục.

[End – Saudong]