CHƯƠNG 2
C2.1 [Start – N. T. Hang – 2072 words - DONE]
SỰ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN VIỆT
Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được
minh chứng bằng những tư liệu lịch sử
không những của Việt Nam, mà c̣n của chính Trung Hoa cũng như của
PhươngTây, đồng thời bằng quá tŕnh chiếm
hữu thật sự,ḥa b́nh và thực thi liên tục của các nhà nước
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ đầu
thề kỷ XVII sang thế kỷ XIX.
2.1 CÁC NGUỒN
TƯ LIỆU MINH CHỨNG SỰ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN VIỆT NAM TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
& TRƯỜNG SA.
Các
tư liệu của Việt Nam cũng
như của Phương Tây và ngay cả một số
tư liệu của Trung Quốc cũng thật hết sức
rơ ràng, cho biết quá tŕnh chiếm hữu thật sư,ï hoà
b́nh và thực thi liên tục chủ quyền của Việt
Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một
thực tế, khác hẳn với những tư liệu mà
Trung Quốc đă viện dẫn để cố suy diễn
chứng minh chủ quyền của ḿnh .
2.1.1. Những
tư liệu của Việt Nam minh chứng chủ quyền
Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa.
Phân tích những tư liệu của Việt
Nam, đối chiếu với những tư liệu của Trung Quốc
được viện dẫn trong bộ sưu tập
"Ngă Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên" do Hàn Chấn
Hoa chủ biên [48], chúng ta có một số kết quả
sau:
Hầu hết các tư liệu Việt
Hầu hết tư liệu của Việt
Tư liệu Việt
Các tư
liệu chứng minh chủ quyền của Việt
Nam đă xuất hiện liên tục qua các đời: từ
đầu thời Chúa Nguyễn, (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây
Sơn rồi tới đầu triều Nguyễn (từ
vua Gia Long) qua hoạt động của đội Hoàng Sa
cũng như sự khẳng
định, sự quản hạt hành chánh của chính quyền
Việt Nam, và sau đó đến các triều Minh Mạng,
Thiệu Trị qua hoạt động của thủy
quân. Đại
Nếu không kể những tư liệu đại
loại như Trung Quốc thường viện dẫn , tức
là những người khi đi qua Hoàng Sa rồi cảm
tác hay viết tới quần đảo này như Lư Văn
Phức đi trên tàu sang Philippines năm 1832 viết “Vọng
kiến Vạn Lư Tràng Sa tác” trong tác phẩm “Đông Hành Thi
Thuyết Thảo” …, Việt Nam có khoảng gần 30 tư
liệu các loại, liên tục qua các đời từ
đầu thế kỷ XVII đến khi bị các nước
ngoài xâm phạm, đă khẳng định chủ quyền
của Việt Nam hết sức rơ ràng.
Trong thời kỳ
Đại Việt, thời kỳ
Nam Bắc phân tranh và thờiTây Sơn (1672 - 1801), nguồn
tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ c̣n lại tư liệu của
chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu
là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong Hồng
Đưc Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản đồ (Viện Hán Nôm
Hà Nội, kư hiệu A2628) của
Đỗ Bá Công Đạo, Chính Hoà năm thứ 7 (1686) (2.7) và Phủ Biên Tạp Lục của
Lê Qúi Đôn năm 1776 .
Trong Thiên Nam Tứ
Chí Lộ Đồ Thư hay Toản
Tập An Nam Lộ có bản đồ (xem phụ lục 2.1a, 2.1b, 2.1c) là
tài liệu xưa nhất, đă ghi phần chú thích của
bản đồ với nội dung : "Giữa biển có một dải cát dài, goïi là Băi
Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm, rộng 20 dặm..Từ
cửa Đại Chiêm, đến cửa Sa Kỳ mỗi
lần có gíó Tây Nam th́ thương thuyền các nước
đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió
Đông Bắc th́ thương thuyền chạy ở ngoài
cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết
đói hết cả. Hàng hóa th́ đều
để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm
vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến
đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều
là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ
cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy
th́ phải một ngày rưỡi (sic). Từ cửa Sa Kỳ đến đấy th́ phải nửa
ngày (sic). “
Khoảng cách từ cửa Đại Chiêm đến
Băi Cát Vàng ( chữ Hán Việt là Hoàng Sa) một ngày rưỡi
đường, cũng như từ cửa Sa Kỳ nửa
ngày đường là ghi lộn, v́ tất cả các tài liệu
khác đều ghi 3 ngày đêm. Vả lại ngoài khơi cửa
Đại Chiêm cũng như cửa Sa Kỳ không có đảo
nào dài và có
những đặc điểm mà tài liệu đă mô tả
trên , ngoài Băi Cát Vàng hay Hoàng Sa tức Paracel.
C̣n tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của
Lê Qúi Đôn, năm 1776 (2.8) là tài liệu cổ, mô tả
kỹ càng nhất về Hoàng Sa. Lê Qúi
Đôn được Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cử
vào Phú Xuân năm 1775 để lo sắp đặt kế
hoạch b́nh định hai trấn Thuận Hoá và Quảng
Đoạn văn thứ 1: (quyển 2, tờ
78b -79a) (xem phụ lục 2.2) :
“... Ở
ngoài cửa biển lớn thuộc về địa phận
xă An Vĩnh, huyện B́nh Sơn, phủ Quảng Nghĩa
(2.9) có một ḥn núi mang tên là Cù Lao Ré (2.10) . Chiều
rộng núi này có thể hơn 30 dặm. Ngày trước có dân cư phường Tứ
Chính trồng các thứ cây đậu tại ruộng
nương nơi đó. Người ta
ra biển rồi chèo thuyền đi bốn trống canh nữa
có thể đến Cù Lao Ré.
Ở ngoài
núi Cù Lao Ré có đảo Đại Trường Sa (2.11) ngày
trước, nơi đây thường sản xuất nhiều
hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước
có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận
các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày đêm
mới đến được
đảo Đại Trường Sa ấy, như thế
là đảo Đại Trường Sa đă gần đến
xứ Bắc Hải” ( tờ 78b - 79a)
Đoạn văn thứ 2 : (quyển 2, từ tờ
82b -85a) (xem phụ lục 2. 3a,2. 3b,2.3c,2. 3d)
"Phủ Quảng-
Ngăi , huyện B́nh- Sơn có xă An- Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông - Bắc
có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng
biển, từ ḥn này sang ḥn kia hoặc đi một ngày hoặc
vài canh th́ đến. Trên núi có chỗ có suối
nước ngọt. Trong đảo có băi cát vàng dài
ước hơn 20 dặm, bằng phẳng rộng lớn,
nước trong suốt đáy, trên đảo có vô số yến
sào; các thứ chim có hàng ngh́n, hàng vạn, thấy người
th́ đậu ṿng quanh không tránh. Bên băi vật
lạ rất nhiều. Ốc vân th́ có ốc tai voi to
như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu
ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, cái vỏ
có thể đeo làm tấm bài được, lại có thể
nung vôi xây nhà; có ốc xà- cừ, để khảm đồ
dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều
có thể muối và nấu ăn
được. Đồi mồi th́ rất lớn, có con
hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi
mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ
dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn
được. Có hải sâm, tục gọi là con đột
đột, bơi lội ở bên băi, lấy về dùng vôi
xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn th́ ngâm nước
cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và
thịt lợn càng tốt.
Các thuyền ngoại phiên bị
băo thường bị hư hại [một
số dị bản chép nhầm là ỷ (nương đậu)
(Xem phụ lục 2.3e, 2.3g )] ở đảo này. Trước
họ Nguyễn đặt đội Hoàng - Sa 70 suất, lấy
người xă An - Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm
cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương
đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền
câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm th́ đến đảo
ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim
bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của
tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc,
ḥn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối
ch́, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cũng
là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải
ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến
kỳ tháng tám th́ về, vào cửa Eo, đến thành Phú -
Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới
cho đem bán riêng các thứ ốc
vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về.Lượm
được nhiều ít không nhất định, cũng
có khi về người không. Tôi đă xem sổ của cai
đội cũ là Thuyên - đức - hầu biên rằng:
năm nhâm ngọ lượm được 30 hốt bạc;
năm giáp thân được 5.100 cân thiếc; năm ất
dậu được 126 hốt bạc; từ năm kỷ
sửu đến năm qúy tỵ, 5 năm ấy, mỗi
năm chỉ được mấy tấm đồi mồi,
hải ba. Cũng có năm được khối thiếc,
bát sứ, và hai khẩu súng đồng mà thôi.
Họ Nguyễn lại
đặt đội Bắc - Hải, không định bao
nhiêu suất hoặc người thôn Tứ - chính ở B́nh
- Thuận, hoặc người xă Cảnh - Dương, ai
t́nh nguyện đi th́ cấp giấy sai đi, miễn cho
tiền sưu cùng các tiền tuần đ̣, cho đi thuyền
câu nhỏ ra các xứ Bắc - hải, cù lao Côn - lôn và các
đảo ở Hà - tiên, t́m lượm vật của tàu
và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải
sâm, cũng sai cai đội Hoàng- Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, c̣n
vàng bạc của qúy ít khi lấy được.
Hoàng- Sa chính gần phủ
Liêm - châu, đảo Hải - Nam, người đi thuyền
có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc - quốc, hỏi
nhau ở trong biển. Tôi đă từng thấy một
đạo công văn của quan chính đường huyện
Văn - xương, Quỳnh - châu gởi cho Thuận - hoá
nói rằng: năm Kiền - long thứ 18 có 10 tên quân nhân xă
An - vĩnh, đội Cát - liềm, huyện Chương -
nghĩa, phủ Quảng - ngăi nước An - nam ngày tháng 7
đến Vạn Lư Trường Sa t́m kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ t́m kiếm,
chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt
dây thuyền, giạt vào Thanh- lan
cảng, quan ở đấy xét thực đưa trả
về nguyên quán . Nguyễn -
Phúc -
[end – N.T. Hang]
C2.2 [Start – Cuong Nguyen –
2045 words]
Như
thế, một thực tế quan trọng: Phủ Biên Tạp
Lục đă chép rất rơ "Hoàng Sa ở gần đất Liêm Châu của
Trung Quốc" . Sự thực cũng
đă rành rành khi Phủ Biên Tạp
Lục ghi rất chi tiết, rất rơ những hoạt
động của đội Hoàng Sa ở phía Bắc, có lần
lính Hoàng Sa bị băo trôi dạt vào cảng Thanh Lan của
Trung Quốc. Đội Hoàng Sa vừa
kiêm quản đội Bắc Hải ở phía
Ngoài những tài liệu
trên c̣n có nhiều văn bản hiện c̣n lưu trữ
trong dân gian ở Phường An Vĩnh tại Cù Lao Reù (xem phụ
lục 2.4), nay thuộc huyện đảo Lư Sơn, tỉnh
Quảng Ngăi do Nguyễn Quang Ngọc, và Vũ Văn Quân
(khoa Sử, Đại Học Quốc Gia Hà Nội) phát hiện.
Chẳng
hạn như đơn của ông Hà Liễu, cai hợp
phường Cù Lao Ré, xă An Vĩnh, xin chính quyền Tây
Sơn cho phép đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt
động và tờ chỉ
thị ngày 14 tháng 2 Thái Đức năm thứ 9 (1786) của
quan Thái Phó Tổng Lư Quân Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công
đốc suất công việc của đội Hoàng Sa.
Năm
1773, sau 2 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn làm chủ miền
đất từ Quảng Nam đến B́nh Thuận trong
đó có đất Quảng Ngăi. Những hoạt động
của đội Hoàng Sa ở xă An Vĩnh
được đặt dưới quyền kiểm soát
của chính quyền Tây Sơn.
Với
truyền thống hoạt động hàng trăm năm,
dân xă An Vĩnh, vốn tự lập về phương tiện
tàu thuyền, lại quen việc, nên luôn luôn tham gia vào đội
Hoàng Sa. V́ thế, cuối thời chúa Nguyễn ở xứ
Đàng Trong (Nam Hà), khi quân Tây Sơn nổi dậy, kiểm
soát được vùng đất Quảng Nghĩa, dân xă An
Vĩnh vẫn tiếp tục hoạt động ở
ngoài khơi xă của ḿnh.
Tờ
đơn trên của Ông Hà Liễu có đoạn viết
như sau :
“Bây giờ chúng tôi lập
hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm thêm dân ngoại tịch,
được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt
thuyền ra các đảo, các
cù lao ngoài biển t́m nhặt các vật hạng đồng
thiếc, hải ba, đồi mồi được bao
nhiêu xin dâng nạp” (xem phụ lục 2.4.1)
Chỉ
thị ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của
Thái Phó Tổng Lư Quản Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng
Công để gởi cho cai đội
Hoàng Sa:
“ Sai Hội Đức Hầu,
cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong
đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi
bốn chiếc thuyền câu vượt biển,
thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển,
t́m nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ
đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải
ba cùng đá quư đều chở về kinh tập trung, nộp
theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến,
lại gian dối lấy bớt các vật qúy hoặc sinh
sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị
trị tội” (xem phụ lục 2.4.2)
Sang thời kỳ Triều
Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909,
có rất nhiều tài liệu
chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam
trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trước
hết là Dư Địa Chí trong
Bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821)
và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) ( xem phụ
lục 2.5 (a), 2.5 (b) )
Cả
hai tài liệu trên đều viết về Phủ Tư
Nghĩa mà nội dung hầu hết nói đến Hoàng Sa. Phủ Tư Nghĩa thuộc vào Thừa
Tuyên Quảng Nam, được đặt tên từ thời
Lê Thánh Tông giữa thế kỷ XV đă được
Nguyễn Hoàng đổi thành phủ Quảng Nghĩa từ năm 1602. Sang
thời Tây Sơn đổi thành Hoà Nghĩa, đến
năm 1801 đổi thành trấn. Đến
Minh Mạng thứ 10 (1829) đổi thành tỉnh .
Minh Mạng thứ 13 (1832) tỉnh Quảng
Nghĩa lại có phủ mang tên cũ là Tư Nghĩa.
Phan Huy Chú viết về phủ Tư Nghĩa
thời Lê thay v́ Quảng Nghĩa và dùng các địa danh cũ
cũng thời Lê như Nghĩa Giang (huyện), B́nh
Dương (huyện). Điều này chứng
tỏ Phan Huy Chú sử dụng tài liệu địa dư
của Lê Trịnh ở Bắc Hà. Điều đó cũng
hợp lư, v́ tác giả biên soạn
công tŕnh này hồi đầu triều Nguyễn, trong thời
gian Phan Huy Chú c̣n đang lân đận khoa cử chỉ
đậu Tú tài trong 2 kỳ thi (1807, 1819). Đến
năm Minh Mạng thứ 2 (1821) (2.12), Phan Huy Chú mới dâng
bộ sách này cho vua Minh Mạng và cho biết ông đă soạn
trong 10 năm. Trong khi Hoàng Việt
Địa Dư Chí đă cập
nhật hoá các địa danh thời Chúa Nguyễn đặt
như huyện Chương Nghĩa (ghi chú là cựu Nghĩa
Giang) huyện B́nh Sơn (cựu B́nh Dương), song lại
sử dụng địa danh Tư Nghĩa Phủ.
Nội
dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều
điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn cuối
thế kỷ XVIII, chỉ khác
ở điểm :“Tiền Vương Lịch Triều
trí Hoàng Sa đội ...” thay v́ “Tiền Nguyễn thị
triù Hoàng Sa đội” - Bởi tác giả viết hai cuốn
sách trên sống dưới triều đại Nguyễn,
khác với Lê Qúi Đôn sống dưới triều đại
Lê Trịnh ở Bắc Hà.
Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một
công tŕnh biên khảo bách khoa lịch sử lớn gồm 49
quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của các triều
đại Việt Nam.
Chính Dư Địa Chí quyển 5, ở phần Quảng
Hoàng Việt Dư Địa Chí (1833) (2.13),(
Xem phụ lục 2. 6 (a), 2. 6 ( b) ) không đề tên tác giả,
được khắc in vào năm
Minh Mạng thứ 14 ( 1833) và sau đó được
tái khắc in nhiều lần. Người ta
thường gọi là cuốn Địa
Dư Minh Mạng.
Nhiều người như Phạm
Thận Duật đă ghi Hoàng Việt Địa Dư Chí lại chính là của Phan Huy Chú trong tài liệu tham bác của cuốn
Hưng Hoá Kư Lược.
Điều này chứng tỏ Hoàng
Việt Địa Dư Chí bắt nguồn từ Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí của Phan Huy Chú. Đại để nội
dung có nhiều điều giống nhau, song đôi chỗ
có khác nhau về từ hoặc thêm, bớt và nhất là cách
tŕnh bày. Thay v́ Dư Địa
Chí gồm 5 quyển, th́ Hoàng
Việt Địa Dư Chí
chỉ có 2 quyển với cấu trúc khác nhau.
Cũng như Dư Địa Chí của Phan Huy Chú, trong phần
Quảng Nam, Hoàng Việt Dư Địa Chí đề cập đến phủ
Tư Nghĩa mà hầu hết nội dung đều nói về
Hoàng Sa. So với Dư Địa
Chí, Hoàng Việt Dư
Địa Chí viết gọn
hơn song cùng một nội dung về hoạt động
của đội Hoàng Sa.
Đại
khắc in
năm 1844) (2.14), (xem phụ lục
2.9) là loại tài liệu chính thức của nhà nước
Việt
So
với Phủ Biên Tạp Lục,
Đại Nam Thực Lục Tiền Biên c̣n có điểm
làm rơ hơn là xác định tính chất quần đảo:
rằng ngoài biển Quảng Ngăi có một loại h́nh quần
đảo tục gọi là băi Hoàng Sa có hơn 130 cồn
cát không biết dài tới mấy ngàn dặm lại cách xa
nhau một ngày đường hoặc vài trống canh.
Ngoài
ra, Đại Nam Thực Lục
Tiền Biên cũng chép: “hồi
quốc sơ đặt đội Hoàng Sa, hàng năm cứ
tháng 3 cỡi thuyền ra đảo, 3 ngày 3 đêm tới
nơi, đến tháng 8 về” và
cũng chép về đội Bắc Hải mộ dân Tứ
Chính, B́nh cố hoặc xă Cảnh Dương sung vào, hoạt
động ở phía Nam, Côn Lôn, Hà tiên do đội Hoàng Sa
kiêm quản.
Đại Nam Thực Lục
Chính Biên (2.14) (khắc in năm 1848) có cả thảy
11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú,
rất cụ thể về sự thực thi chủ quyền
của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Đoạn
thứ 1 : Đại Nam Thực
Lục Chính Biên: đệ nhất kỷ , quyển 50
(đời vua Gia Long) chép rất
rơ ràng : “tháng giêng năm Aát Hợi
(1815) [vua Gia Long] sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc
đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc
thủy tŕnh...” [97] (xem phụ lục
2. 10 )
Đoạn thứ 2 :Đại Nam Thực Lục
Chính Biên: đệ nhất kỷ, quyển 52
(đời vua Gia Long) một lần nữa lại ghi
rơ ràng : “Năm Bính Tư, niên hiệu
Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và
đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét
và đo đạc thủy tŕnh...” [97] (xem phụ lục 2.11)
Đoạn
thứ 3 :Đại
Lần đầu tiên
tư liệu chính sử của triều đ́nh Việt
Nam ghi rơ lời của một hoàng đế Việt Nam
(vua Minh Mạng) đă khẳng định chủ quyền
của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, khẳng
định Hoàng Sa nằm trong hải phận của Việt
Nam và sai người dựng miếu, lập bia, trồng
cây [98] (xem phụ lục 2.12 (a),2.12(b) ).
Đoạn thứ 4
:Đại nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ,
quyển 122 (đời vua Minh Mạng) chép :
"Năm Giáp Ngọ, Minh
Mạng 15 (1834) sai giám thành đội trưởng
Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người
đi thuyền đến
đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngăi vẽ
bản đồ". [99]
Đoạn thứ 5
:Đại
"Năm ngoái vua toan dựng
miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng
v́ sóng gió không làm được. Đến đây, mới
sai cai đội thủy quân là Phạm
Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh
Quảng Ngăi, B́nh Định chuyên chở vật liệu
đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng).
Bên tả miếu dựng bia đá, phía
trước miếu xây b́nh phong.Mười ngày làm xong rồi
về." (xem
phụ lục 2.13 a, 2.13 b) [100]
[End – Cuong Nguyen]
C2.3 [Start – D.L.T. Ngoc – 1976 words]
Đoạn thứ 6: Đại
“ Năm Bính Thân,
niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo
Quang thứ 16 đời nhà Thanh) Bộ Công tâu : “Xứ
Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước
ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ
riêng về h́nh thế xa rộng, ta mới chỉ vẽ
được một, rồi lại cũng chưa biết
vẽ nên làm thế nào. Hàng năm, thường phái người
đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường
biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến
hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền
binh và giám thành đáp 1 chiếc
thuyền ô nhằm thượng
tuần tháng hai th́ đến
Quảng Ngăi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định
, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ
Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, băi cát nào, phàm khi thuyền
đến nơi, tức th́ cứ chiếu chiều dài,
chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, và nước
biển, băi biển xung quanh nông hay sâu, có băi ngầm, đá
ngầm hay không, h́nh thế hiểm trở b́nh dị thế
nào, phải xem xét đo đạc rơ ràng , vẽ thành bản
đồ... Chưa bao giờ chúng ta có một tài liệu
chi tiết như tài liệu này và sự chỉ đạo
của Bộ Công về việc hoạt động của
thủy quân biền binh và giám thành trong việc đo đạc,
vẽ bản đồ một cách qui mô về quần
đảo Hoàng Sa. [101]
Đoạn thứ 7
: Đại
Đoạn thứ 8 :Đại Nam Thực Lục
Chính Biên, đệ tam kỷ, quyển 49 (đời Thiệu Trị) chép
:"Thiệu trị thứ 5
Aát Tỵ (1845), ngũ đẳng thị vệ Nguyễn
Hoán được phái đi đến Hoàng Sa thuộc tỉnh
Quảng Ngăi, tự tiện quấy rối các làng… Hoán phải
tội lưu …" [102]
Trong Khâm Định
Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851)
(2.15), có đoạn văn đề cập đến
Hoàng Sa trong quyển 207, tờ 25b
-26a rằng: “Năm thứ 16 (1836) chuẩn y
lời tâu cho tỉnh Quảng Ngăi dựng miếu Hoàng Sa một
gian (làm kiểu nhà đá) ở phía Tây Nam cồn cát trắng.
Bên tả dựng bia đá (cao 1 thước 5 tấc, mặt
1 thước 2 tấc), phía trước xây bức b́nh chắn,
phía tả, phía hữu và phía sau trong các loài cây” (xem phụ
lục 2.15 a, 2.15 b).
Cũng
trong bộ sách Khâm Định
Đại
Tài liệu rất qúi giá là
châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX) (2.5),
ở đó người ta t́m thấy những bản tấu,
phúc tấu của các đ́nh thần các bộ như bộ
Công, bộ Hộ và các cơ quan khác hay những dụ của
các nhà vua về việc thực thi
chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc văng
thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm
cột mốc... Cũng có nội dung bản tấu cho biết
những hoạt động hàng năm trên bị hoăn tháng
khởi hành như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thay v́ hạ
tuần tháng 3 khởi hành, măi tới hạ tuần tháng 4 vẫn
chưa khởi hành, hoặc năm Thiệu Trị thứ
5 (1845) có chỉ đ́nh hoăn kỳ văng thám
năm 1846.
Trong
châu bản triều Nguyễn thế kỷ XIX, có những
đoạn nói về sự thực thi chủ quyền của
Việt
·
Dụ
ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835)
thưởng phạt những người công tác tại
Hoàng Sa. Trong Châu bản
tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết vua Minh Mạng
ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội
Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên 80 trượng v́ tội tŕ hoăn
thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành Trần
Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng
chưa chu tất việc vẽ bản đồ Hoàng Sa.
Trong khi đó lại thưởng
dân binh đội Hoàng Sa Vơ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi
người một quan tiền v́ đă có công hướng
dẫn hải tŕnh của thủy quân đi Hoàng Sa. [80]
·
Phúc
tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ
17 (1836 ),
trong tập châu bản Minh Mạng 55, trang 336 ghi lời châu phê của vua Minh Mạng: “Mỗi
thuyền văng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ
(cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc , khắc sâu hàng chữ: “Năm
Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh
đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để
lưu dấu.” Vua cũng
phê rằng thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc
đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng
c̣n ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật
được phái từ Thuận An vào Quảng Ngăi để đi
công tác Hoàng Sa [5].
·
Tấu
của bộ Hộ ngày 11 tháng 7 năm Minh Mang thứ 17 (1836)
xin thanh toán cấp lương thực cho dân phu công vụ
Hoàng Sa. [6]
·
Dụ
ngày 13 tháng 7 Minh Mạng 18 (1837) trong tập châu bản Minh Mạng
57, trang 245 có đoạn cho biết
trước có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngăi,
B́nh Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc,
vẽ hoạ đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện
gồm 4 tên can tội đă có chỉ phạt trượng,
c̣n binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ,
thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương
dân phu mỗi tên 2 quan tiền. [81] (xem phụ
lục 2.7(a), 2.7(b)).
·
Tấu
của bộ Công ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mạng thứ
19 (1838) về việc hoăn khởi hành ra Hoàng Sa
bởi gió mưa lớn trong tập châu bản Minh Mạng
68, trang 21 có viết xin tấu tŕnh lên vua vào ngày 2 tháng 4 nhuận
Minh Mạng 19 (1838), việc phái văng thám để đo đạc giáp ṿng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn
định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng v́ gió
Đông nổi lên liên tục
kèm theo
mưa lớn tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. [7]
·
Tấu
của Bộ Công ngày 21 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 19
(1838) về việc
thám sát và vẽ bản đồ ở Hoàng Sa.
Bản tấu viết rằng những người
được phát đi Hoàng Sa do Bộ
ty Đỗ Mậu Thưởng và Thị vệ Lê Trọng
Ba dẫn đầu và hướng dẫn viên Vũ Văn
Hùng. Oâng Hùng cho biết Hoàng Sa tất cả
có 4 nơi cần khảo sát th́ lần này đi được
3 nơi. C̣n mội nơi hơi xa ơ Phía
·
Tấu
của tỉnh Quảng Ngăi ngày 19 tháng 7 Minh Mạng 19 (1838)
xin miễn thuế cho 2
chiếc “bổn chinh thuyền” . Trong tập
châu bản Minh Mạng số 64 trang 146 có đoạn viết
rằng ngày 19 tháng 7 Minh Mạng thứ 19 (1838)
: Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc
“bổn chinh thuyền’ đă đưa binh dân đến
Hoàng Sa đo đạc giáp ṿng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ
tuần tháng 6 , hoàn tất công vụ nay đă trở về
[112].
·
Phúc
tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 1 năm Thiệu Trị
7 (1847) về việc đ́nh hoăn thám sát Hoàng Sa.
Trong tập châu bản Thiệu Trị 41, trang 83 có
đoạn viết: “Ngaøy 26 tháng 1 năm Thiệu Trị
7 (1847): Tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) ra sắc về việc
đ́nh hoăn thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu
đợi chỉ
có nên văng thám Hoàng Sa kỳ này hay không ?” . Châu phê :”Đ́nh hoăn”
[8].
·
Tấu
của Bộ Công ngày 28 tháng 12 Thiệu Trị 7 (1847)
trong tập châu bản
Thiệu Trị 51, trang 235 có đoạn viết trong ngày 28
tháng 12 Thiệu Trị (1847) rằng hàng năm, vào mùa xuân
theo lệ phái binh thuyền văng thám Hoàng Sa thuộc hải cảng
nước nhà cho thành thục đường đi lối
lại. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ
đ́nh hoăn kỳ văng
thám năm Thiệu
Trị 6 (1846) v́ công vụ bận rộn, năm nay cũng
xin đ́nh hoăn (xem phụ lục 2.8 (c), 2.8(d) ). [9]
[End – D.L.T. Ngoc]
C2.4 [Start – N.T.T. Son – 2039 words]
Việt Sử Cương
Giám Khảo Lược quyển IV của Nguyễn Thông
(1877) (2.17) có
đoạn viết về Hoàng Sa như sau:
“Vạn
Lư Trường Sa : từ đảo
Lư Sơn (tục gọi là Ngoại La [tức Cù
Lao Ré] đi thuyền về phía Đông , ba ngày ba đêm
th́ đến. Nước Việt Nam ta ở buổi quốc sơ thường kén những đinh
tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh, mà đặt
đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những
vật ngoài biển, hàng năm cứ tháng 2 đi, tháng 8 về. Băi Cát dăng từ phía
Đông mà sang phiá
Trong bộ sách
Đại
Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại
lần 2 và khắc in)
(2.18), ấn hành năm Duy Tân thứ 3 (1910), quyển 6
: tỉnh Quảng Ngăi có 2 đoạn văn chép rơ quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đại
Đại
Trong quyển III Quốc
Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc Sử Quán triều
Nguyễn, (2.19) đời vua Minh Mạng, có 3
đoạn văn liên quan đến Hoàng Sa .
Đoạn thứ nhất
(QTCBTY, quyển 3, tờ 97b-98a) viết rằng: "Hoàng Sa ở hải
phận Quảng Ngăi có một chỗ có cồn cát trắng
cây cối xum xuê tươi tốt. Ở trong
cồn cát có một cái giếng. Phía tây nam có một
ngôi miếu xưa, bia đá khắc bốn
chữ "Vạn Lư Ba B́nh" (nghĩa là muôn dặm sóng
yên). Cồn cát trắng trước kia có tên là Phật
Tự Sơn. Các bờ đông, tây và nam đều có san hô.
Có một đồi đá nổi lên, chu vi 340 trượng,
cao 1 trượng 3 thước, ngang với đồi cát,
gọi là Bàn Than Thạch. Ra lệnh xây miếu và dựng
bia ở chốn này. Trước miếu có xây b́nh phong".(xem phụ lục 2. 17a, 17b) [104]
Đoạn
thứ hai (QTCBTY, quyển 3, tờ
104a) viết rằng "tháng
giêng, năm Bính Thân thứ 17 (1836)…, triều đ́nh đă
khiến thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật
đem binh thuyền đến Quảng Ngăi, thẳng tới
miền Hoàng Sa, không nệ cù lao nào, cồn cát nào, phàm chiều
dài, chiều ngang, chiều rộng, chiều cao, châu vi và bốn
phía gần đó có cát ngầm đá mọc hay không; h́nh thể
hiểm dị thế nào, từ cửa biển ra đó
đường thủy ước bao nhiêu dặm; bờ
biển thuộc địa phương nào, nhất nhất
ghi chép rơ ràng. Lại chuẩn bị mang theo
thẻ gỗ đến nơi dựng lên làm dấu, vẽ
đồ bản đem về dâng lên ngài ngự lăm." (xem phụ lục
2. 17 (c) ) [104]
Đoạn
thứ ba (QTCBTY, quyển 3, tờ 110a) viết rằng:"Năm Bính Thân thứ 17 (1836)
tháng 12, tàu buôn nước Anh Cát Lợi qua băi Hoàng Sa, bị
cạn ghé vào băi biển B́nh Định hơn 90 người.
(Vua) sai t́m nơi cho ở và hậu cấp tiền
gạo. Thuyền trưởng, đầu mục tỏ
ra rất cảm kích. (Vua) sắc cho phái viên
đi Tây. Nguyễn Tri Phương đem mấy
người ấy xuống bến ở Hạ Châu
đưa về nước".( xem phụ lục 2.17(d) ) [104]
Ngoài ra các bản đồ cổ
của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế
kỷ XIX đều vẽ Băi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa trong
cương vực của Việt
2.1.2 Những tư liệu của Trung Quốc và
Phương Tây minh chứng chủ quyền Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
+ Những tư liệu của
Trung Quốc minh chứng chủ quyền của Việt
Trong
thời gian chưa có sự tranh chấp chủ quyền, tức
trước năm 1909, rất nhiều tài liệu của
Trung Quốc cũng như Phương Tây đều gián tiếp
hay trực tiếp xác nhận
chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
·
Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của
Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 (2.20).
Trong
quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự
đă nói đến Vạn Lư Trường Sa tức Hoàng Sa
và đă khẳng định Chúa Ngăi đă hành sử chủ
quyền của ḿnh trên quần đảo này như sau:
"Bởi v́ có những cồn cát nằm
thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc
qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách
tường, băi thấp cũng ngang mặt nước biển;
mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm
phải ắt tan tành; băi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài
thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi
là “Vạn Lư Trường Sa” ,
mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái
nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo
không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quảng ấy
cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng
bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước,
hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm vàng bạc khí cụ của
các thuyền lui tấp vào. Mùa
thu nước dâng cạn, chảy rút về hướng
Đông bị một ngọn sóng đưa thuyền có thể
trôi xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh , sợ
có hiểm hoạ Trường Sa". [116,125]
Thích
Đại Saùn đaơ kể lại kinh nghiệm
hải tŕnh qua vùng Hoàng Sa tức Vạn Lư Trường Sa
và cho biết ước lượng khoảng cách từ
vùng Hoàng Sa đến Đại Việt khoảng bảy
ngày đường. Những tài liệu của Việt Nam
như đă
cho biết giữa các đảo phải đi đến mất 1 ngày đường, nên nếu
phải trải qua hàng trăm
dặm tới Đại Việt
đi mất tới 7 ngày đường, trong khi từ bờ
biển Việt Nam đi tới
đảo gần nhất của quần đảo Hoàng
Sa chỉ mất 3 ngày 3 đêm là hợp lư.
Thích
Đại Sán viết “Thời
Quốc Vương trước , ở đây hàng năm
sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm
vàng bạc, khí cụ của các thuyền bị đắm
ở Hoàng Sa” cũng phù hợp với các tài liệu Việt
Nam về hoạt động đội Hoàng Sa, song rơ
hơn là xác định thời gian trước thời Quốc
Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), có nghĩa là ít ra cũng
ở thời Nguyễn Phúc
Trăn (1687 - 1691) hoặc các
Chúa Nguyễn khác. Trong thời gian này, chưa có tranh chấp
nên Thích Đại Sán là người Trung Quốc đă có
thái độ khách quan ghi nhận chủ quyền của
Đại Việt đối với Hoàng Sa như tŕnh bày ở trên. Cũng
như các phần lănh thổ khác của Đại Việt,
chẳng bao giờ có các văn bản của triều
đ́nh Trung Quốc xác nhận. Truyền
thống chiếm hữu lănh thổ của Phương Tây
cũng chẳng bao giờ công bố cho các nước khác
được biết. Chỉ có thực tế lịch
sử xảy ra như thế nào th́ những người
am hiểu tường tận như Thích Đại Sán biết
rơ sự việc xảy ra ở Đại Việt xứ Đàng
Trong đă ghi nhận như thế.
·
Các bản đồ cổ
Trung quốc do chính người Trung quốc vẽ từ
năm 1909 trở về trước đều minh chứng
Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung quốc.
Khảo sát tất cả các bản đồ
cổ của Trung quốc từ năm 1909 trở về
trước, người ta thấy tất cả các bản
đồ cổ nước Trung quốc do người
Trung quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần
đảo Tây Sa, Nam Sa hay bất cứ các đảo nào mà
Trung quốc suy diễn là Tây Sa và Nam Sa có nằm trong các bản
đồ cổ ấy. Tất cả các bản đồ
cổ ấy đều xác định đảo Hải
Chẳng hạn như "Dư
địa đồ" đời Nguyên của Chu
Tư Bản được
vẽ thu nhỏ lại trong sách "Quảng Dư đồ" của La Hồng
Tiên quyển 1, thực hiện năm 1561, phần cực
Nam lănh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh
2. 36).
- "Thiên Hạ
Thống Nhất Chi Đồ" đời Minh
trong Đại Minh Nhất Thống Chí, năm 1461, quyển
đầu, đă vẽ cực nam Trung Quốc là đảo
Hải
-"Hoàng Minh Đại
Thống Nhất Tổng Đồ" đời Minh,
trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ của
Trần Tổ Thụ, 1635, quyển thượng đă vẽ
phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58],
(h́nh 2.38).
-"Lộ Phủ,
Châu Huyện Đồ" đời Nguyên
vẽ lại trong Kim Cổ Dư Đồ của Nguyễn
Quốc Phụ đời Minh, năm 1638, quyển hạ
đă vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải
Nam [58], (h́nh 2.39)
- "Hoàng Triều
Phủ Sảnh, Châu , Huyện Toàn Đồ" đời Thanh, khuyết
danh, năm 1862, vẽ theo "Nội Phủ Địa
Đồ" gồm 26 mảnh mang tên "Đại Thanh
Trực Tỉnh Toàn Đồ" đă vẽ phần cực
nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.40)
- "Hoàng Triều
Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ"
trong tập Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng
Đồ (khuyết danh), năm 1894, đă vẽ phần cực
nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (h́nh 2.41)
- "Quảng
Đông Tỉnh Đồ" trong Quảng Đông Dư Địa
Toàn Đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông soạn
năm 1897, có lời tựa của tổng đốc
Trương Nhân Tuấn đều không thấy bất kỳ
quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa [58] (h́nh
2.42).
- " Đại
Thanh Đế Quốc" , trong tập "Đại
Thanh Đế Quốc Toàn Đồ" do Thường
Vụ Aán Thư Quán Thượng Hải, 1905, tái bản lần
thứ 4 năm 1910, đă vẽ phần cực Nam lănh thổ Trung quốc là đảo Hải
Nam [58], (h́nh 2.43)
- "Đại
Thanh Đế Quốc Vị Trí Khu Hoạch Đồ
" (1909), cũng như bản đồ trên đă vẽ phần cực nam
Trung Quốc là đảo Hải
Sau năm 1909, nhiều bản đồ Trung
Quốc đă vẽ Tây Sa, Nam Sa trong lănh thổ của Trung
Quốc, trong đó có "Trung Quốc Cương Giới
Biến Thiên Đồ" năm 1939, đă vẽ ranh giới
thuộc quốc đời Thanh xuống tận gần
Indonesia, gồm cả Triều Tiên [58] (h́nh 2.45).
[end – N.T.T. Son]
C2.5 [Start – Ngoc Lan – 2073
words]
Ngoài ra, một số tư liệu cổ mà Trung Quốc trưng ra
để chứng minh sự phát hiện sớm của
người Trung Quốc (mà thực ra chỉ là suy diễn
không có cơ sở vững chắc để chứng minh
chủ quyền của Trung Quốc) lại đều là
các tài liệu viết về nước ngoài như Giao Châu Dị Vật Chí của
Dương Phù. Xứ Giao Châu là Việt
Sau
khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng
1 nănm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc
đến các đảo thuộc quần đảo này và
gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật
như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm
trổ trên các ḥn đảo này, song đều không có giá trị
ǵ để minh xác chủ quyền Trung Quốc bởi
đồng tiền La Mă đă từng được phát
hiện ở Óc Eo (An Giang), ở miền Nam Việt Nam
nhưng không thể chứng minh rằng Óc Eo (An Giang) thuộc
chủ quyền La Mă. Các nhân viên khảo cổ
Trung Quốc c̣n phát hiện được 14 ngôi miếu cô
hồn và cho rằng chúng có từ thời Minh Thanh.
Trong các ngôi miếu cô hồn ấy lại có 2 ngôi miếu ở
đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ưle
Boisée) đă được nhóm Hàn Chấn Hoa biên chép lại
từ bài báo “Từ quần đảo Tây Sa trở về”
trên Đại Công Báo Hương Cảng , ngày 31 tháng 3
năm 1957, ghi rơ :
“Trên đảo Vĩnh Hưng [ Phú Lâm ] hiện nay có 2 ngôi miếu mà ngư
dân tự xây dựng nên. Miếu mặt Nam gọi là “Cô hồn
miếu”, miếu ở mặt Bắc gọi là “Hoàng Sa Tự”
(Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, Ngă Quốc Nam Hải Chư
Đảo Sử Liệu Hội Biên, thiên thứ 1, trang
115 )
“Hoàng
Sa Tự” là bằng
chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền
của Việt Nam mà các vua chúa Việt Nam, trong có thời
Minh Mạng sai thủy quân ra Hoàng Sa xây dựng miếu, chùa
như đă tŕnh bày trong chương này.
* Tư liệu
Phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt
Năm 1494, Giáo Hoàng Alexandre VI đă dùng quyền
lực tinh thần để phân các vùng ảnh hưởng
trên thế giới cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha. Sự phân chia này được
chính thức hoá trong hiệp ước Tordesillas 1494.
Do đấy, các đội thương thuyền của Bồ
Đào Nha đă đi về phương Đông tức Ấn
Độ và Trung Quốc. Bồ Đào Nha đă thiết lập
một thương điếm ở Ma Cao (Trung Quốc) từ năm 1511 và biến Ma Cao
thành thuộc địa từ 1557. Từ đó các
thương thuyền qua lại Biển Đông và có những
nhà hàng hải Bồ Đào Nha thám hiểm vùng Biển
Đông trong đó có đảo Hoàng Sa.
Nhà
hàng hải Bồ Đào Nha Fernăo Mendes Pinto, một giáo sĩ
Ḍng Tên đă viết cuốn sách du kư Peragrinacăo (dịch ra tiếng Pháp là
Pérégrination nói về
chuyến du hành năm 1545, được xuất
bản tại Lisbonne năm 1614.trong đó FM., Pinto đă mô
tả về quần đảo Hoàng Sa mà ông gọi là Pulo
Pracela (Pracela tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa
là san hô, Pulo có nghĩa là đảo, cù lao). Cũng trong thời
gian này, các nhà truyền giáo đi theo các thương thuyền đă
đến truyền đạo vào Đàng Ngoài của Việt
Cũng
giống như các nhật kư hải tŕnh, các tấm hải
đồ của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong nửa
sau thế kỷ XVI phản ánh một quan niệm, hiểu
biết chung về một quần đảo mà họ gọi
là Pracel giống
như một dải "ruban" dài hay như một
lưỡi dao dài cong chứ không găy khúc, kéo dọc suốt
ngoài khơi với bờ biển Đàng Trong lúc bấy giờ.
Những tấm bản đồ hiếm có t́m thấy
xưa nhất có ghi nhận quần đảo Hoàng Sa (Parcel) của người Bồ Đào Nha
c̣n là những bản đồ vào giữa thế kỷ
XVI. Đó là bản đồ Bartholomen Velho (1560) (h́nh 2.46) được
ghi lại trong sách của P.Y. Manguin và bản đồ khuyết
danh trong cuốn Livro da Marinharia, ghi lại trong cuốn
Peregrination của F.M. Pinto.(h́nh 2.47). Hai tấm bản đồ có ghi
niên đại 1560 tương đối giống nhau
đă phản ánh trung thực sự hiểu biết lúc bấy
giờ của người Phương Tây về Hoàng Sa. Nói chung người Phương Tây lúc bấy
giờ mà tiêu biểu là người Bồ Đào Nha
chưa hiểu biết rơ về
Hoàng Sa cũng chưa biết các đảo này thuộc về
chủ quyền của nước nào. H́nh dáng Hoàng Sa mà
người Bồ ghi hàng chữ J Do Pracel trên cũng ở
phía Bắc một dải dài
những chấm nhỏ chạy từ khoảng Cù Lao
Chàm ở ngoài khơi Hội An, được gọi là
Pulo Campello tới Cù Lao Thu (đảo Phú Qúi) được
ghi bằng Pulo Sissir, ngoài khơi Phan Thiết ngày nay. Cái dải
dài rộng và những chấm đậm ở phiá Bắc,
càng về phía Nam càng hẹp lại và tận cùng bằng
cái chấm nhỏ giống như một dải “ruban” nhọn
phía dưới. Dải “ruban” Pracel ấy trong “Livro da Marinharia”
của FM Pinto được ghi nhiều chấm hơn,
phía Bắc đậm hơn, bề ngang phần dưới
hẹp hẳn.
Đến
cuối thế kỷ XVI, bản đồ Fernao Vaz Dourado
(1590) (h́nh 2.48) cho
thấy người Bồ Đào Nha cũng chưa tăng
sự hiểu biết ǵ thêm. Song người Hà Lan đă bắt
đầu hoạt động rất mạnh ở vùng này
với bằng chứng là bản đồ của
Van - Langren năm 1595 (h́nh 2.49) hết sức phong phú, rất
nhiều chi tiết nhất là tại vùng Trung Bộ. Tại
Bắc Bộ cũng có nhiều chi tiết rơ hơn nhất
là sông Hồng đă được vẽ bắt nguồn
từ Vân Nam ghi là Suinam. Ở phía Tây Bắc
Pracel có đảo Hải
Bước qua thế kỷ XVII,
do nhiều nguyên nhân, người Bồ Đào Nha đă mất
thế độc quyền ở Biển Đông. Một
số quốc gia khác đă vượt trội, tăng
cường sự có mặt của ḿnh ở vùng biển
này, đi lại ngày càng nhiều chung quanh quần đảo
Hoàng Sa.
Địch thủ có thế lực lớn mạnh nhất
của Bồ Đào Nha lúc này là Hà Lan. Tiếp
theo là Anh và Pháp. Khác với phương
thức kinh doanh của người Bồ Đào Nha trong thế
kỷ trước, các hoạt động hàng hải của
Hà Lan, Anh và Pháp trong thế kỷ này chủ yếu dựa
vào những công ty thương mại quốc tế,
được các chính quyền nhà nước ấy ủy
quyền và bảo trợ, điển h́nh là các công ty
Đông Aán - Hà
Lan (V.O.C.) thành lập năm 1602 và các công ty Đông Aán Anh
(East India Company) thành lập năm 1600. Hoàng Sa
nằm trên các tuyến đường giao thương quốc
tế lúc bấy giờ đă được người
Tây Phương coi là một vị trí chiến lược
trọng yếu.
Sang
thế kỷ XVIII, những cuộc khảo sát Biển
Đông của các công ty Đông Aán rất kỹ càng. Từ
cuộc thám hiểm đo đạc của phái bộ
Kergariou - Locmacria vào những năm 1778 - 1787 ở Biển
Đông đă giúp cho người Phương Tây hiểu biết
rơ hơn, trung thực hơn, không c̣n lờ mờ và sợ
hăi như những
huyền thoại trước đây về Biển
Đông. Các hải tŕnh tương đối an toàn hơn, tuy họ không hề phủ nhận
sự nguy hiểm và hoạ đắm tàu ở khu vực
quần đảo Paracels.
Người
Pháp qua các hoạt động của các giáo sĩ,
thương gia nhất là từ khi giám mục Pigneau de Béhaine giúp Nguyễn
Ánh về quân sự, đă bắt đầu quan tâm đến
Việt Nam và kế thừa những hiểu biết của
người Bồ Đào Nha, Hà Lan, đă biết rất rơ
về nội t́nh chính trị Đàng Trong cũng như
Đàng Ngoài thời phân tranh cũng như khi thống nhất.
Từ đó, người Phương Tây mới biết rơ
chủ quyền của Việt
Như
thế, chính người Pháp mới bắt đầu cung
cấp những tài liệu xác thực về sự xác lập
chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, Sau đây là những tài liệu chủ
yếu :
·
Nhật
Kư trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần
đảo thuộc về nước An
Các
thư từ nhật kư của người Tây
Phương, trong đó có
người Pháp, đă được tập hợp
thành bộ “Lettres Edifiantes et Curieuses” của Archives des
Missions Étrangères de Paris, Paris ,
1838, 4 vols.
Trong
tài liệu này, có
nhật kư của chiếc tàu Amphitrite chở các giáo sĩ
Pháp qua quần đảo Paracels vào năm 1701 ghi như sau:
“Người ta cho tàu nhổ
neo, gió rất tốt. Và sau đó một thời
gian đi đến mỏm đá Paracels. Paracels là một quần đảo
thuộc về nước An
[end – Ngoc Lan]
C2.6 [Start – Nguyen Phung Hung – 2042 words]
·
“ Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste
Chaigneau (1769 - 1825), viết vào những năm cuối đời
Gia Long (1816 - 1819) đă khẳng định năm 1816 vua
Gia Long đă xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần
đảo Paracels.
Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) được vua
Gia Long đặt tên là Nguyễn Văn Thắng, phong là Thắng
Toàn Hầu, từng theo giúp Nguyễn Aùnh chống Tây
Sơn, đă thay J. M. Dayot vào
cuối năm 1796 trông coi tàu
Phi Long, có dự trận Thị Nại 1801, hoạt động
ở Quảng Nam - Huế. Ông trông coi việc
tiếp tế cho quân đội ở Phú Xuân (sắc ngày 16
-3 - 1802).
Ông viết hồi kư nhan đề “Le mémoire sur
la Cochinchine” được A. Salles, một viên chức thanh
tra thuộc địa công bố trên Bulletin des Amis du Vieux Hueá, n02, Avril - Juin 1923,
trong đó có đoạn viết :
“Nước
Cochinchine mà vua bây giờ xưng đế hiệu (Hoàng
đế) gồm xứ Đàng Trong (Cochinchine proprement dite),
xứ Đông Kinh (Tonquin), một phần xứ Cao Miên, một
vài đảo có dân cư không
xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ,
đá ngầm và mỏm đá không dân cư. Chỉ đến
năm 1816
đương kim hoàng đế mới lấy
chủ quyền trên quần đảo ấy" [36, 13] [177]
·
“Univers, histoire et
description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám mục Taberd xuất bản
năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng
định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa
năm 1816.
Giám mục Jean Louis Taberd trong cuốn “Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs
religions, moeurs et coutumes”,
xuất bản năm 1833 viết về Paracels như sau:
“Chúng tôi không đi vào việc kê khai những ḥn đảo
chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu
ư rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo
Paracels, mà người Việt gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa (có
nghĩa là Cát Vàng) gồm rất nhiều ḥn đảo chằng
chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa
những băi cát, làm cho những kẻ đi biển rất e ngại, đă
được chiếm cứ bởi người Việt
xứ Đàng Trong".
“Chúng tôi không rơ họ có thiết lập một cơ sở
nào tại đó không; nhưng có điều chúng tôi biết
chắc là hoàng đế Gia
Long đă chủ tâm thêm cái đoá hoa kỳ lạ đó vào
vương miện của ông, v́ vậy mà ông xét thấy
đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp
thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816 mà Ngài
đă long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”. [66] [186]
·
An Nam Đại Quốc Họa Đồ của
giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định
Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong lănh hải Việt
Nam. [27] (h́nh 2.50)
Baûn đồ
này được đính sau cuốn Tự Điển Việt
- La Tinh nhan đề “Latino - Anamiticum” của
giám mục Taberd từng làm thông dịch cho vua Minh Mạng từ
tháng 11 năm 1826, xuất bản năm 1838. Bản
đồ có chiều dài 80cm, ngang 44cm in trên loại giấy
thường để in hoạ đồ. Nhan đề
bản đồ được in bằng ba thứ tiếng:
chữ Hán, chữ Quốc Ngữ và chữ La Tinh.
An Nam Đại
Quốc Họa Đồ là một
tài liệu phản ảnh sự tổng kết những
hiểu biết sâu sắc và chính xác của người
Phương Tây từ thế kỷ XVI đến đầu
thế kỷ XIX về mối quan hệ giữa quần
đảo Hoàng Sa và nước Đại Việt mà tác giả gọi là An Nam Đại
Quốc. An
1.
Paracels
là địa danh mà người Phương Tây chỉ
quần đảo ở Biển Đông suốt thế kỷ
XVI đến đầu thế kỷ XIX chính là Cát Vàng hay
Hoàng Sa của Việt
2.
Trong bản
đồ An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ không
ghi đảo Hải Nam hay bất cứ đảo nào của
các nước láng giềng và chỉ ghi "Paracel Seu Cát
Vàng" mà thôi, chứng tỏ Paracel Seu Cát Vàng nằm trong
lănh thổ của An Nam Đại Quốc hay Đại Việt.
3.
Địa danh
Paracel ghi bên cạnh những chấm đánh dấu các
đảo ở khoảng vĩ độ 160 Bắc (ngang vĩ độ cửa
Tư Dung , Thừa Thiên ) lên
đến vĩ độ 170 Bắc khoảng Cửa
Tùng (Quảng Trị) và kinh độ 111,018 Đông. Điều
này đă phản ảnh sự hiểu biết về Hoàng Sa của người Phương Tây đă rất
chính xác và Hoàng Sa không c̣n chung với quần đảo
Trường Sa nữa.
Trên phần đất liền ghi hàng chữ
dài: "An Nam Quốc Seu Imperium Anamiticum" cùng hàng chữ "Cocincina
interior" seu "An Nam Đàng Trong", ở phía Nam "Lũi
Sầy" seu "Murus magnus separans Olim Utrumque regne " và
"Cocincina exterior", Đàng Ngoài seu "Tunquinum", chứng tỏ nội dung bản
đồ được vẽ không phải ở thời
điểm 1838, mà đă được vẽ từ
trước đó. Song bản đồ lại ghi
các địa danh mới ra đời sau này như B́nh
Định Thành, Định Tường Thành... nên năm vẽ
An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ phải sau khi
Nguyễn Aùnh đă chiếm thành Qui Nhơn.
Bản đồ vẽ bờ biển
miền Nam Trung Bộ rất chính xác, c̣n miền Bắc, nhất
là giáp ranh với Lào chưa thật chính xác. Sự hiểu biết của
người Tây Phương về Việt
·
The Journal of the Asiatic Society of
The
Journal of the Asiatic Society of Bengal
là tờ báo của Hội Á Châu của người Anh ở
xứ
·
“The Journal of the
Geographycal Society of
“Đây chúng tôi đáng lẽ không kể đến
quần-đảo
Cát Vàng nó ở gần bờ bể An-nam 15 đến
20 dặm và lan giữa các vĩ-tuyến 15 và 17 độ Bắc,
và các kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, nếu Vua xứ
Cochin-china đă không đ̣i quần-đảo
ấy là của ḿnh, với nhiều đảo và ghềnh
rất nguy-hiểm cho người hàng-hải. Không biết
v́ san hô hay v́ lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần;
nhưng rơ-ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ
ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đă có
người ở vĩnh-viễn, thế mà chỉ mấy
năm trước sóng đă vỗ mạnh dập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá-trị
nếu nghề chài ở đó không phồn-thịnh và không
bù hết mọi nguy-nan cho kẻ phiêu lưu. Từ
lâu đời, những thuyền, phần lớn từ Hải-Nam
tới, đă hằng năm đến thăm các băi nổi
nầy và tiến-hành cuộc viễn-du xa xa đến tận
bờ đảo Bornéo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười
bị đắm, nhưng cá đánh được rất
nhiều, đến đỗi không những bù hết mọi
thiệt tḥi, mà c̣n để lại món lợi rất to.
Chính-phủ An-Nam thấy những lợi có thể mang lại
nếu một ngạch thuế đă đặt ra, bèn lập
ra những trưng-thuyền và một trại quân nhỏ ở
chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài
tới đây đều phải trả, và để bảo-trợ
người đánh cá bản-quốc. Vậy
nên một cuộc giao-dịch lớn được dần
dà gây nên và có cơ bành-trướng nhờ sự có rất
nhiều cá tới trên các băi nầy đẻ trứng.
Một vài đảo có cây-cối cằn-cỗi, nhưng
thiếu nước ngọt ; và những
thủy-thủ nào quên mang theo nước trữ đầy
đủ, thường bị lâm vào cơn khốn-đốn
lớn”.
Tác giả c̣n viết rằng “Nếu vua xứ
Cochinchina đă không đ̣i quần đảo ấy là của
ḿnh với nhiều đảo và ghềnh nguy hiểm cho
ngành hàng hải, th́ ông đă chẳng kể đến quần
đảo Paracels (Cát Vàng) làm ǵ” [36,trg
12],[157].
Tuy tác giả ước lượng không chính
xác khoảng cách từ bờ biển Việt
Như vậy, tác giả đă cho biết rơ rằng
chính phủ Việt
Khi phân tích các tư liệu Việt Nam và các
tư liệu nước ngoài cũng như của Trung Quốc,
chúng ta thấy rất rơ hầu hết tư liệu Việt
Nam đều là tư liệu của nhà nước, minh
xác rất rơ việc xác lập và thực thi chủ quyền
Việt Nam qua các hoạt động khai thác kinh tế, cụ
thể hoạt động của đội Hoàng Sa, đội
Bắc Hải do nhà nước quản lư, các hoạt động
của dân các tỉnh miền Trung như Quảng ngăi, B́nh
Định, B́nh Thuận… cùng các hoạt động của
thủy quân, giám thành như xây dựng miếu, trồng
cây, dựng bia, đặt cột mốc, đo đạc
thủy tŕnh …
C̣n tài liệu nước ngoài trong đó có cả
tài liệu Trung Quốc, phần lớn là nguồn tư nhân. Theo đó các nhà tu,
nhà buôn, thám hiểm cũng đều khẳng định
Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracel và chính
quyền Việt Nam đă thực thi chủ quyền của
ḿnh qua các thời đại.
[end – Nguyen Phung Hung]
C2.7 [Start – Nguyen Phung Hung – 2035 words]
2.2 SỰ KHẲNG ĐỊNH CHỦ
QUYỀN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG XÁC LẬP CHỦ
QUYỀN CỦA CÁC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT
2.2.1 Sự khẳng định
chuû quyền Hoàng Sa, Trường Sa của vua chúa, triều
đ́nh Việt
Trong
khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rơ vua, triều
đ́nh Trung Quốc khẳng định chủ quyền của
ḿnh ở Hoàng Sa và Trường Sa, th́ tài liệu chính sử
của Việt
nhà
nước Việt Nam, của triều đ́nh Việt Nam
như Đại Nam Thực Lục
Chinh Biên, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ,
Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống
Chí đă ghi nhận rất rơ ràng rằng hoàng đế
Việt Nam, triều đ́nh Việt Nam luôn khẳng định
Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển Việt
Nam.
Tỷ
như tháng 8 mùa thu năm Qúi Tỵ Minh Mạng
thứ 14 (1833), vua Minh Mạng bảo Bộ Công rằng: “Dải
Hoàng Sa trong vùng biển Quảng Ngăi...” (Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ
nhị kỷ, quyển 104). Năm Bính Thân, niên hiệu Minh
Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16
đời Nhà Thanh) Bộ Công tâu lên vua :
“Xứ Hoàng Sa thuộc
cương vực mặt biển nước ta rất là
hiểm yếu ( Đại
2.2.2 Việc
quản lư hành chánh của các chính quyền Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong
suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là một, luôn được quản lư hành
chánh bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa
Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngăi lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự
trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch
sử. Bởi từ khi Nguyễn
Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng
(năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương
năm 1744, trên danh nghĩa chúa
Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị
v́ . Như thế mọi hành động xác lập
chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới
danh nghĩa nước Đại Việt và trước hết
trên danh nghĩa thuộc Thừa Tuyên, Quảng
Như
thế, trên thực tế tự trị trên, Phủ Quảng
Nghĩa có huyện B́nh Sơn (trước đó là huyện
B́nh Dương) quản lư xă An Vĩnh. Toản Tập
Thiên
Năm 1801, Hoà Nghĩa đă được gọi
lại với tên Quảng Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngăi
đọc chệch). Tại phủ Quảng
Nghĩa ngoài viên tuần phủ, khánh lư c̣n có một viên
chính hộ lư, một viên đề lănh, một viên kư lục, một
viên cai phủ và một viên thư kư. Sau Quảng
Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm
1829, tiếp tục quản lư xă An Vĩnh. Dần dần
xă An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung
cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xă An Vĩnh, An Hải di dân
ra Cù Lao Ré lập 2 phường
An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An
Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn,
khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi
hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi
cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm
Quang Aûnh được cử làm đội trưởng
đội Hoàng Sa
năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở
đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xă Lư Vĩnh thuộc
huyện đảo Lư Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám
Khảo Lược của
Nguyễn Thông và Đại Nam
Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều
Nguyễn đă xác nhận đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh
Quảng Ngăi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn,
nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa
là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can thiệp
vào những hoạt động có định kỳ hàng
năm của đội dân binh Hoàng Sa để có
phương tiện tốt và đảm bảo những
yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân
gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong
hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.
2.2.3 Sự
thành lập và hoạt động của đội Hoàng Sa từ thế kỷ XVII
đến thế kỷ XIX.
Trước
năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở
Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ
quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của
họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong
khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ
chức dân binh Việt Nam, đội Hoàng Sa đă hoạt
động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa
khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa,
Trường Sa.
2.2.3.1 Địa bàn
ra đời của đội Hoàng Sa là
ở vùng cửa biển Sa Kỳ (h́nh 2.51) và Cù Lao Ré.
Trước
hết Cù Lao Ré (2.21) (h́nh 2.52) c̣n gọi là Lư Sơn, người
Bồ Đào Nha gọi là Pulo Catah, người Trung Quốc
gọi là Ngoại La. Cù Lao Ré ở vĩ độ 15040
Bắc và kinh độ 1090 Đông, nằm về
phía Đông Bắc vịnh Dung Quất, cách thủ phủ
Quảng Ngăi 50km, cách cửa biển Sa Kỳ khoảng 27
km. Xa về phía Bắc là Cù Lao Chàm, phía Nam là đảo Phú
Quí.
Đảo
Cù Lao Ré h́nh đa giác không đều cạnh, chiều dài lớn
nhất 7 km, chiều ngang 3 km, diện tích gần 11km2
(2.22). Núi chiếm 1/4 ở bốn
chung quanh, trống ở giữa, gồm 5 ngọn
: Ḥn Tiền, ḤnTai, Ḥn Sỏi, Ḥn Vung và lớn nhất là Thới Lới.
Về phía Tây Bắc, ngoài biển c̣n có Ḥn Bé, phía Đông là
Ḥn Mù Cu. Tại Ḥn Bé có đất trồng trọt , có giếng
nước ngọt ngay sát bờ biển. Ở
ngoài biển quanh đảo có san hô và có những hải sản
qúi như hải sâm (đồn đột), đảo trồng
nhiều lạc và ngô, bây giờ trồng hành tỏi.
Dân
cư sống ở đây từ lâu đời, c̣n di tích
văn hoá Sa Huỳnh
gồm các mảnh gốm, các mộ chum cách nay
hơn 2000 năm(2.23) và văn hoá Chăm. Theo gia phả các
ḍng ho,ï những người Việt đầu tiên di dân ra
đảo vào đầu thế kỷ XVII từ vùng cửa
biển Sa Kỳ ở đất liền tiến ra.
Có 2 nhóm dân chiếm 2 vùng khác nhau của đảo.
Sáu họ (lục tộc) của
làng An Vĩnh (huyện Sơn Tịnh) ra ở
phường An Vĩnh, nay là Lư Vĩnh và bảy hộ (thất
tộc) của làng An Hải (huyện B́nh Sơn) ra ở
phường An Hải, nay là làng Lư Hải (2.24). Tại chùa
Hang c̣n gọi là “Thiên Khổng Thạch Tự” ở núi Thới
Lới, có thờ các vị tiên hiền khẩn hoang, mở
đầu của phường An Vĩnh
(Lư Vĩnh) và An Hải (Lư Hải). Dần dần,
dân các nơi thậm chí cả vùng Gia Định cũng
đến đây định cư. Theo
gia phả họ Phạm Văn (thôn Tây Lư Vĩnh) cho
biết các vị tiên hiền ra đảo lập nghiệp
vào năm Hoàng Định thứ 9 (1609). Dân các
phường An Vĩnh, An Hải đă nhiều đời
sinh ra và lớn lên ở Cù Lao
Ré nhưng họ vẫn phải chịu đầy đủ
mọi nghĩa vụ với làng quê gốc ḿnh ở
đất liền. Măi đến năm Gia Long thứ 3
(1804), hai phường An Vĩnh và An Hải mới thực
sự được tách ra thành các đơn vị hành
chính độc lập với làng quê gốc , theo
đơn của các viên chức phường An Vĩnh xin
tách khỏi xă An Vĩnh. Tài liệu
này c̣n được lưu giữ tại nhà thờ họ
Phạm Quang, phường An Vĩnh, nay là xứ Lư Vĩnh,
huyện Lư Sơn [ 87 ] [88]
Đối
diện với Cù Lao Ré ở đất liền là vùng cửa
biển Sa Kỳ và mũi Ba Làng An (Batangan) ở vị trí
nhô ra biển với kinh độ ở gần quần
đảo Hoàng Sa nhất so với các nơi ở bờ
biển Trung Bộ của Việt Nam, lại là địa
bàn của làng quê gốc của dân Cù Lao Ré. Đóù là xă An Vĩnh
ở một bên bờ cửa biển Sa Kỳ thuộc huyện
Sơn Tịnh, và phía Bắc là xă An Hải thuộc huyện
B́nh Sơn, Quảng Ngăi. Xă An Vĩnh gồm đất liền
ở cửa biển Sa Kỳ và phường An Vĩnh, xă
An Hải cũng thế, gồm phường An Hải ở
Cù Lao Ré mà đến đời
Gia Long thứ 3 (1804) mới tách ra như nói trên. Tại phía
Vùng
cửa biển Sa Kỳ bao gồm cửa biển, không có sông chảy
ra nên không có hiện tượng cát bồi, có độ sâu
tương đối tốt để làm cảng (thuyền)
thời bấy giờ. V́ thế, hai bên cửa biển thuận
lợi cho dân cư sinh sống, nhất là bờ phía Nam, xă
An Vĩnh, sống về nghề
biển và cả nông nghiệp, cách phủ lỵ Quảng
Ngăi gần 30km. Bờ phía Bắc thuộc xă An Hải, ít
trù phú, ít dân cư hơn.
Những
hải sản qúi ở vùng Cù Lao Ré như hải sâm, đồi
mồi có nơi tiêu thụ dễ, gần đó là đô thị
Hội An ở phía Bắc. Vùng cửa biển Sa Kỳ và
Cù Lao Ré cũng dễ dàng được cung cấp các vật
liệu làm thuyền buồm như tre, lá, gỗ, kể cả
gỗ kiền kiền làm cột buồm từ vùng rừng
núi Quảng Ngăi, Quảng Nam ở cách không xa.
Hoàn
cảnh địa lư tự nhiên, từ vị trí, địa
thế cũng như nhân
văn nói trên của vùng cửa biển Sa Kỳ- Cù Lao Ré
khiến dân cư ở đó giỏi đi biển, thường
đi t́m những hải sản qúi như hải sâm, ốc
tai tượng ngay ở vùng kế cận Cù Lao Ré. Hiển
nhiên những nơi như Hoàng Sa đầy
ắp những hải sản tất sẽ có sức hút những
cư dân trên đi tới. Đó cũng là lư do đầu
tiên khiến Cù Lao Ré - cửa biển Sa Kỳ là cái nôi ra
đời của đội Hoàng Sa.
[End – Nguyen Phung Hung]
C2.8 [Start – Thanh Dang – 1889 words]
Ngoài
ra, do hoàn cảnh lịch sử của xứ Đàng Trong,
muốn tồn tại, từ thời Nguyễn Hoàng đă
nghĩ đến phát triển giao thương ra biển
khơi, tạo điều kiện phát triển mạnh của
đô thị giao thương quốc tế Hội An với
sự có mặt của người Nhật, Trung Quốc,
nhất là người phương Tây (từ đầu thế
kỷ XVI phát triển giao thương về phương
Đông, khi thiết lập được các thương
điếm từ Malacca đến Macao). Trận thủy
chiến với người Hà Lan (hợp tác với quân Trịnh)
ở gần cửa Thuận An thời Chúa Nguyễn Phúc
Nguyên đă thúc đẩy xứ Đàng Trong phải có kế
hoạch thường xuyên thu lượm không những hải sản qúi mà
c̣n sản vật do đắm tàu, nhất là súng ống
để tăng cường sức mạnh trong cuộc
chiến tranh với họ Trịnh ở Đàng Ngoài.
2.2.3.2.
Thời gian hoạt động của đội Hoàng Sa.
Về thời gian bắt đầu
ra đời của đội Hoàng Sa, các sử sách Việt
Nam và của cả Trung Quốc đều chép đội
Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời
chúa Nguyễn. Hải Ngoại
Kỷ Sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời
Quốc Vương trước đă có những hoạt
động của đội “Hoàng Sa” và Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776, chép
“Tiền Nguyễn Thị”. Đại
Theo
sách Phủ Biên Tạp Lục
của Lê Qúi Đôn, Nguyễn Hoàng vào năm Hoàng Định
năm thứ 3 (1602) mới đi chơi núi Hải Vân, thấy
núi non hiểm trở nói rằng : “Chỗ này là đất
yết hầu của miền Thuận Quảng”. Rồi
vượt qua núi, xem xét h́nh thế, đến tận
đất xă Câu Húc thuộc
Duy Xuyên hiện nay, sai người con thứ 6 là Nguyễn
Phúc Nguyên đến trấn
giữ dinh Quảng
Ngoài
ra, như ta đă biết ở trên, Phủ Biên Tạp Lục cũng như các tài liệu
khác đều cho biết đội Hoàng Sa khi trở về
đất liền vào tháng tám âm lịch vào cửa Eo
hay Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính
dinh ở Phú Xuân. Từ thời Nguyễn Phúc Nguyên tuy
không c̣n ở Aùi Tử, Quảng
Trị nữa mà mới vào
vùng Phước Yên, Quảng Điền, bên bờ sông Bồ,
chi nhánh của sông Hương, song chính dinh chưa tới
Phú Xuân. Thời chúa Nguyễn
Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến
Kim Long vào năm Dương Hoà năm đầu (1635) và thời
chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân. Như
thế, chúng ta có cơ sở để kết luận
đội Hoàng Sa
ra đời sớm nhất từ thời chúa
Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay chắc chắn từ thời
chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào thời kỳ
này, các thuyền của đội Hoàng Sa mới đi vào
cửa Eo (Thuận An ) và nộp sản vật tại
chính dinh Phú Xuân.
Dù
ở thời Chúa Nguyễn nào th́ thời điểm lập
ra đội Hoàng Sa cũng chắc chắn
ít ra là vào nửa đầu thế kỷ XVII, hoặc nói
như sử sách vào đầu thời chúa Nguyễn.
Đội
Hoàng Sa đă hoạt động kể từ chúa Nguyễn Phúc Lan
hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ
chúa Nguyễn,cả thảy 7 đời chúa, gần một
thế kỷ rưỡi. (2.25)
Phong
trào Tây Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vào đất
Gia Định th́ đội Hoàng Sa đặt dưới
quyền kiểm soát của Tây Sơn mà trong tài liệu c̣n
lưu giữ tại nhà thờ họ Vơ tại
phường An Vĩnh, Cù Lao Ré đă cho biết năm 1786
Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré đă xin chính quyền Tây Sơn cho
đội Hoàng Sa hoạt động trở lại.[ 88
] .Đến những năm
cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của
đội Hoàng Sa cũng bị
ảnh hưởng, nên đến khi Gia Long năm thứ
2 (1803) mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở
lại như Đại Nam Thực
Lục Chính Biên, quyển XXII đă ghi rơ:”cai cơ Vơ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển
Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội
Hoàng Sa”.Năm 1815, vua Gia Long sai đội Hoàng Sa đi
đo đạc thủy tŕnh ở Hoàng Sa.
Từ
năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cử thủy quân
cùng với đội Hoàng Sa, không c̣n giao phó hoàn toàn cho đội
Hoàng Sa lo kiểm
soát, đo đạc thủy tŕnh ở Hoàng sa. Đội
Hoàng Sa trở thành tổ chức mang tính
dân sự nhiều hơn. Theo truyền thống, dân Cù Lao Ré
vẫn tiếp tục đi biển trong đó có vùng Hoàng Sa có nhiều sản vật qúi. Không có một
văn bản nào ghi lại việc
quyết định băi bỏ đội Hoàng Sa ngoài Việt Sử Cương Giám Khảo
Lược soạn năm 1877 của Nguyễn Thông cho
biết đội Hoàng Sa bị băi bỏ từ lâu, trước
năm soạn cuốn sách này (1877). Thời Tự Đức,
người ta không thấy biên niên sử c̣n chép các hoạt
động của đội Hoàng Sa, v́
theo phàm lệ của Đại
Ngoài
ra có văn tế sống lính đội Hoàng Sa
thời vua Tự Đức c̣n lưu lại ở đảo
Cù Lao Ré. Tóm lại tuy không biết thời gian chính xác đội
Hoàng Sa đă ngưng hoạt động, chỉ biết
vào năm 1877, khi Nguyễn Thông viết sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược
th́ đội Hoàng Sa đă bị băi bỏ từ lâu rồi.
Từ năm 1816, thủy quân đă đảm trách những
việc xem xét, đo đạc thuỷ tŕnh, không c̣n giao phó
hoàn toàn cho đội Hoàng Sa như
trước nữa.
Về
lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những
tài liệu như Dư Địa
Chí, Hoàng Việt Địa Dư Chí, Đại Nam Thực
Lục Tiên Biên, Đại Nam Nhất Thống Chí, hàng
năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ
tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch th́ về. Riêng
theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ
Đồ Thư hay Toản
Tập An Nam Lộ th́ lúc đi cuối Đông, không nói
thời gian về; theo Phủ
Biên Tạp Lục có bản đồ thường
đi vào tháng giêng âm lịch đến tháng 8 về (nếu
lương thực mang đi có 6 tháng, chép tháng giêng là nhầm).
Từ tháng 3 đến tháng 8 tức khoảng từ tháng 4
đến tháng 9 dương lịch ở Quảng Ngăi là
mùa khô, có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi
biển, nhất là vùng Quảng Ngăi lại chỉ có băo trong thời
gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9
dương lịch đến tháng 12 dương lịch),
nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế việc
chọn thời gian hoạt động trên của đội Hoàng
Sa là một lựa chọn rất
khôn ngoan của tiền nhân. Đến tháng 8 gió Tây Nam yếu,
chuyển qua gió Đông Bắc th́ thuyền của đội
Hoàng Sa trở về vào cửa Eo để nộp sản
phẩm ở chính dinh là đúng lúc, hợp lư nhất. Lúc đầu đi sớm quá không thấy lợi,
nên dời đến tháng 3 là điều hợp lư. Song chấm dứt vào tháng 8 để tránh băo là
điều rất khôn ngoan của tiền nhân ta. Hầu
hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch
đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt
động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm.
Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí 3, 4 ngày
đêm. Thời gian trên đều là thời gian thực
tế đối với loại thuyền buồm nhẹ
chạy nhanh khởi
hành từ đất liền hay Cù Lao Ré đến đảo
gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa. Dĩ
nhiên trong suốt 6 tháng hoạt động, đội Hoàng
Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, suốt
các đảo từ phía Bắc. Riêng các ḥn đảo xa
phía Nam, ở cuối quần đảo Trường Sa hiện
nay là Côn Đảo, Hà Tiên th́ đă có đội Bắc Hải
phụ trách và cũng lệ thuộc vào đội Hoàng Sa.
Hoàng
Sa và Trường Sa nằm trong khu vực có nhiều băo tố, nên
điều kiện lúc bấy giờ không cho phép trú cả năm mà phải theo mùa.
Như thế, quá tŕnh hoạt động của đội
Hoàng Sa cũng là quá tŕnh xác lập và thực thi chủ quyền
Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
kéo dài từ đầu thế kỷ XVII đến thế
kỷ XIX và theo luật lệ
rơ ràng của nhà nước Việt Nam.
Bảng 2.1 BẢNG ĐỐI
CHIẾU CÁC DỮ KIỆN CỦA CÁC TÀI LIỆU VIỆT NAM
VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI HOÀNG SA .
|
Tên tài liệu |
Số lượng người (suất đinh) |
Số chiếc thuyền |
Thời gian đi |
Thời gian về |
Thời gian đi đường |
Thời gian hoạt động |
|
Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ |
Không ghi |
18 |
Cuối Đông âm lịch |
Không ghi |
Một ngày rưỡi (có dị bản ghi nhầm nửa ngày) |
Không rơ |
|
Phủ Biên tạp Lục |
70 (xă An Vĩnh) |
5 thuyền câu nhỏ |
Tháng 3 (có dị bản
ghi nhầm tháng Giêng âm lịch, tháng 2 dương lịch) |
Tháng 8 âm lịch (tháng 9 dương lịch) |
3ngày đêm |
6 tháng |
|
Dư Địa Chí (Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí ) |
70 (xă An Vĩnh) |
5 chiếc nhỏ |
Tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch) |
Tháng 8 âm lịch (tháng 9 dương lịch) |
3 ngày đêm |
6 tháng (lương thực
được cấp phát) |
|
Hoàng Việt Dư Địa Chí |
70 (xă An Vĩnh) |
5 chiếc nhỏ |
Tháng 3 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
3 ngày đêm |
6 tháng (lương thực được cấp
phát) |
|
Đại nam Thực Lục Tiền Biên |
70 (xă An Vĩnh) |
Không ghi |
Tháng 3 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
3 ngày đêm |
6 tháng |
|
Việt Sử Cương Giám Khảo Lược,
quyển 4 |
(không ghi số lượng) hộ An Hải và An Vĩnh |
Không ghi |
Tháng 2 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
Không ghi |
7 tháng (ghi nhầm) |
|
Đaị |
70 (xă An Vĩnh) |
Không ghi |
Tháng 3 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
3,4 ngày đêm (nếu thuận gió) |
6 tháng |
[End – Thanh Dang]
C2.9 [Start – Hoang Truong Sa - 2041 words]
2.2.3.3. Nhiệm vụ của đội
Hoàng Sa.
Về
nhiệm vụ, đội Hoàng Sa cần
phải làm những công việc sau:
1.
Thu lượm các sản vật
từ các tàu đắm, các hải sản qúi từ vùng biển
phía Bắc quần đảo Hoàng Sa (phía Nam tức phần
Trường Sa hiện nay do đội Bắc Hải phụ
trách).
2.
Kiêm quản, trông coi đội
khác cùng làm nhiệm vụ song ở địa bàn khác
như đội Bắc Hải ở phía
3.
Riêng về nhiệm vụ
dọ thám ngoài biển, giữ ǵn ngoài biển, tŕnh báo về
các bọn thổ phỉ ngoài biển th́ đơn xin phường
An Vĩnh tách khỏi xă An Vĩnh ngày 1 tháng 2 năm Gia Long
thứ 3 (1804) đă đề cập đến ở trên
đây, chứng tỏ người dân đă tha thiết tự
thấy có nhiệm vụ này. Đương nhiên nhà nước
được dân binh t́nh nguyện th́ dễ chấp nhận
v́ đâu có mất mát ǵ, vả lại tính chất bán quân sự
của đội Hoàng Sa đương
nhiên phù hợp với nhiệm vụ này. Ngoài ra chức cai
đội Hoàng Sa kiêm chức cai cơ Thủ Ngự mà Thủ
Ngự lại có nhiệm vụ do thám ngoài biển. Nhiều
tài liệu cho biết
cai đội Hoàng Sa kiêm quản cai cơ thủ ngự
như Đại
Như
thế nhiệm vụ của đội Hoàng Sa rất nặng nề, không thuần túy về
kinh tế, khai thác tài nguyên mà c̣n làm công tác xem xét, đo đạc
thuỷ tŕnh, ḍ thám trên quần đảo Hoàng Sa, nhất
là trong thời các chúa Nguyễn và thời kỳ đầu
nhà Nguyễn. Chính từ công tác kiêm quản của
đội Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải cho
ta có quan niệm về quản lư Biển Đông của
chính quyền Chúa Nguyễn và buổi đầu nhà Nguyễn
thời ấy. Dân vùng cửa biển Sa Kỳ, cũng
như dân Cù Lao Ré rơ ràng rất giỏi nghề đi biển
xa mà thời nay gọi là “viễn dương”, mà vị trí
địa lư vùng này (Sa Kỳ, Cù Lao Ré) lại là nơi nhô
ra Biển Đông xa nhất. Cũng như dân đất liền
thời mở cơi ấy, dân cửa biển Sa Kỳ và Cù
Lao Ré (Quảng Ngăi) được chính quyền thời
Chúa Nguyễn tín nhiệm giao trọng trách khai khẩn tới
đâu, quản lư tới đó, c̣n được giao nhiệm
vụ khác: kiêm quản.
2.2.3.4
Tổ chức và nội dung hoạt động của
đội Hoàng Sa
Về
tổ chức, Đội Hoàng Sa là một tổ chức
dân binh vừa
mang tính dân sự vừa mang tính quân sự; vừa
mang tính tư nhân vừa mang tính nhà nước, vừa có chức
năng kinh tế, vừa có chức năng quản lư thời
ấy ở Biển Đông, ra đời từ đầu
thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc,
tay cầm gươm để
mở đất khai hoang mà người đứng
đầu đơn vị hành chánh lớn nhất là
chưởng dinh. Cần có dinh lũy để vừa cai quản về hành chánh, khai hoang vừa chỉ
huy quân sự sẵn sàng chiến đấu. Đây là một
tổ chức đặc biệt ở Đàng Trong cũng
như những tổ chức khác dưới triều Nguyễn
như các sở đồn điền khẩn hoang, mà
đứng đầu mỗi đồn điền là một
quản cơ .
Thời
chúa Nguyễn, theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn quyển
3, có nhiều tổ chức dân binh
như đội thủ
ngự (đội coi về canh gác, ngăn chặn trộm
cướp), đội thổ
binh.
Do
đội là
một tổ chức dân binh nên tổ chức phải thể
hiện h́nh thức tổ chức quân sự của Đàng Trong.
Theo binh chế ở Đàng Trong, ngoài chính binh
(tinh binh c̣n gọi là nội binh), các quan trấn thủ,
lưu thủ ở địa phương thường lấy
dân địa phương làm binh canh giữ các nơi, gọi
là ngoại binh (binh ấy c̣n gọi là thổ binh hoặc tạm
binh, hoặc thuộc binh). Số binh này rất đông, gấp mấy lần
chánh binh mà lại không được trả lương
tháng như chánh binh, họ chỉ được miễn
sưu thuế mà thôi. Phiên chế gồm
dinh, cơ, đội, thuyền. Thuyền là
đơn vị thấp nhất. Mỗi đội gồm
từ 50 , 60 hoặc 40, 50 người.
Điều khiển đội có cai
đội và đội trưởng. Đứng đầu
đội Hoàng Sa là một cai đội,
những thành viên trong đội được gọi là
quân nhân, đă thể hiện tính quân sự hoá trên. V́ thế
có dịch giả Phương Tây dịch đội Hoàng
Salà "compagnie Hoàng Sa", phải hiểu là một tổ
chức quân đội, chứ không phải là tổ chức
hội buôn, mới đúng.
Thời
Chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm
vụ của đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên,
song c̣n dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn.
Số lượng 70 là số lượng đặc biệt
cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa. Cũng theo Phủ Biên Tạp Lục của
Lê Qúi Đôn đă gọi quân nhân để chỉ những người
trong đội Hoàng Sa, trong đó có 2 người bị
trôi dạt vào Cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị băo vào
năm Càn Long thứ 17 (1754), c̣n tám người khác bị mất
tích. Như thế mỗi thuyền trong đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người.
Tại
xă An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xă Tự Kỳ c̣n di
tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ
là ngôi miếu
Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu của
con cá voi, (tương truyền do binh Hoàng Sa đưa từ
Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng Sa , ngôi miếu này bị
phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ
xương cá voi thần linh ở miếu này được
chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi
miếu xưa.
Tại
Cù Lao Ré nay là huyện đảo Lư Sơn vẫn c̣n Âm Linh Tự
tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây xă Lư Vĩnh, tức
phường An Vĩnh xưa và Âm Linh Tự ngoài trời ở
xă Lư Hải tức phường An Hải xưa. Cũng tại xă An Vĩnh và cả
làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo
Cù Lao Ré) có tục tế đ́nh và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính đội
Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào
ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đ́nh làng. Hiện
nay chỉ c̣n đ́nh làng xă Lư Hải, tức phường
An Hải xưa (xem h́nh 2.53 ). Lính Hoàng Sa được tế sống v́ nhiệm vụ
quá nguy hiểm: "lính Hoàng Sa đi dễ khó về". Trừ các chỉ huy như đội trưởng,
thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng
chưa có gia đ́nh, vừa khoẻ mạnh vừa không
vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xă
Tự Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao Ré có nhiều
gia đ́nh c̣n gia phả và bàn thờ những người
đi lính Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn
Đông, xă Lư Vĩnh có nhà thờ (h́nh 2. 54) và gia phả ông tổ
Phạm Quang Aûnh, người được vua Gia Long cử
làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815.
Trong
buổi tế sống lính Hoàng Sa đó,
họ làm những h́nh nộm bằng khung tre và dán giấy
ngũ sắc để giả h́nh người và đem tế
tại đ́nh. Tế xong họ đốt đi, hoặc
đóng thuyền bằng thân cây chuối đặt h́nh nộm
lên và thả trôi ra biển gọi là “khao lễ thế lính
Hoàng Sa” c̣n gọi là "lễ tế sống lính Hoàng Sa" với quan
niệm các h́nh nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm
nguy, tai nạn trên biển thay cho đội Hoàng Sa và cầu
mong cho người thân của họ b́nh an trở về .
Ngày nay tại các nhà thờ tộc họ có người đi
lính Hoàng Sa đều có tổ chức tục lễ như
thế và hiện tại gia đ́nh các tộc họ cũng
c̣n giữ bài Văn Khao Thế Lính Hoàng Sa gồm một nửa chữ Hán, một
nửa chữ Nôm có đoạn :
“Ngày
hôm nay (hoặc đêm nay, buổi sáng nay) có theo ư người ______
ở tỉnh ______ nước
Đại Nam, xin cúng thế một cỗ thuyền mô h́nh,
trôi theo đường thủy Hoàng Sa, mấy cỗ bàn,
vàng bạc, đáp lễ thần quan, xin dâng lên khảo thủy đạo một
tiệc, thành kính bày lễ la liệt...” Văn tế do ông
Nguyễn Xuân Cảnh, 72 tuổi, thôn Tây, xă Lư Hải, huyện
Lư Sơn cất giữ. [ 88
]
Về
địa bàn hoạt động, đội Hoàng Sa có không gian rất rộng. Khởi
đầu những đảo gần bờ biển nhất.
Song trong 6 tháng hàng năm từ
năm này qua năm khác, đội Hoàng Sa mở rộng phạm
vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển
Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản đội Bắc Hải
ở Trường Sa bây giờ.
Nếu
các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải
Các
nhà cầm quyền Việt
Như
tŕnh bày trên, v́ đội Hoàng Sa là một tổ chức dân
binh có nhiều chức năng, nhiệm vụ đặc
biệt ở Biển Đông, nên tổ chức này cũng
rất đặc biệt. Đứng đầu là cai
đội như Phủ Biên Tạp Lục, quyển
2 đă ghi : “Lịnh cai đội Hoàng
Sa tính quản”. Như binh chế thời chúa Nguyễn
mà chúng ta đă biết đội có cai
đội và đội trưởng chỉ huy. Chức
cai đội Hoàng Sa thường được kiêm luôn
các chức khác như trường hợp Phú Nhuận Hầu kiêm cai thủ đồn
cửa biển Sa Kỳ, kiêm cai cơ thủ ngự, như theo tài liệu
tờ kê tŕnh của Phú Nhuận Hầu, ngày 1 tháng 10 năm
Gia Long thứ 2 (1803), tài liệu hiện lưu trữ tại
nhà thờ họ Vơ phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xă Lư
Vĩnh, huyện Lư Sơn, tỉnh Quảng Ngăi . Thủ ngự là đơn vị
cai quản, tuần tra chống trộm
cướp thời Nguyễn.
Tùy
theo mỗi năm, số thuyền đi
từ 4 hay 5 chiếc đến 18 chiếc. Mỗi chiếc
thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản. Thuyền cũng là đơn vị
nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn như
chúng ta đă từng biết.
[End – Hoang Truong Sa]
C2.10 [Start – Saudong – 2579 words]
Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền
, đều là dân binh được gọi là “quân nhân”
như Phủ Biên Tạp Lục,
quyển 2 ghi chép như đă tŕnh bày ở trên. Những quân nhân này chủ yếu là dân gốc xă
An Vĩnh và một phần là dân xă An Hải ở đất
liền và ngoài đảo Cù Lao Ré.
Xă An Vĩnh và xă An Hải ở hai bên cửa biển
Sa Kỳ. Cùng với 2 phường An Vĩnh và phường
An Hải do
di dân đất liền ra Cù Lao Ré, trong đó xă An Vĩnh là
chính, cung cấp dân binh cho đội Hoàng Sa. Trong hầu hết
các sử liệu chỉ nói đến xă An Vĩnh, chỉ riêng Việt Sử Cương Giám Khảo
Lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến
hai hộ An Hải và An Vĩnh tức hai phường An Vĩnh và An Hải ở đảo
Lư Sơn hay Cù Lao Ré.
Theo lời truyền miệng của dân địa
phương Cù Lao Ré để lại, cho biết việc tuyển lựa
70 suất của đội Hoàng Sa theo nguyên tắc định
suất cho các ḍng họ. Song cụ thể vẫn là theo lệ bổ tuyển quân nhân thời Chúa
Nguyễn. Những người gọi là quân nhân ấy được tuyển theo
hệ thống xă, huyện, phủ. Do phải
luân phiên, nên
hàng năm các đội Hoàng Sa phải lo điều chỉnh
quân số sao cho đảm bảo lệ này. Các quân nhân đội Hoàng Sa có
nghĩa vụ của một dân binh b́nh thường, không
giống như binh lính chính qui, về mặt quyền lợi,
ngoài việc được miễn sưu thuế, họ
c̣n được hưởng phần dư, phần
c̣n lại ngoài số qui định
phải nộp cho Nhà Nước. Lương thực mang
đi cho 6 tháng được nhà nước cấp phát.
Song chủ yếu là gạo c̣n thức ăn
phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở
các đảo để sống. Họ phải mang củi
lửa và theo lối truyền thống,
bọn họ dấu những bếp ở mỗi thuyền
bằng các nùi dây dừa khô giữ lửa lâu. Đời sống
của quân nhân trong đó có đội Hoàng Sa thời chúa
Nguyễn khả quan hơn đời sống của
người dân theo như Thích Đại Sán đăơ tả,
rất khổ, phải nộp vào công khố bảy tám phần
mười hoa
lợi. "Người
làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai
trưởng. Bọn
này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp
lúc nhà nước có việc công, cai xă bắt
dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo
cơm đơm, gạo bới đi làm”.
Các quân nhân đội Hoàng Sa
c̣n mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré),
7 cái đ̣n tre. Nếu chẳng may có mệnh một ở giữa biển
th́ dùng chiếu ấy quấn xác, đ̣n tre dùng làm nẹp
và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển.
Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rơ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu
đơn vị của người mất được
cài kỹ trong bó chiếu, cũng là dấu hiệu nhận
biết nếu có ai vớt được [
88 ]
Đội Hoàng Sa sử dụng
các loại thuyền buồm nhẹ và nhanh. Theo J. Barrow viết
trong "A voyage to Cochichina" th́ các tàu thuyền xứ
Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới
thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần
đảo gọi là Paracels thuộc nhiều kiểu dạng
khác nhau .
Cũng theo cuốn du kư
“Suma Oriental” của
người Bồ (Tomé Pires), được A. Cortesas dịch với nhan đề
“ The Suma Oriental, an account of the East, from the Red Sea to Japan", xuất bản tại
London năm 1944, khoảng những năm 1513- 1514 kể lại
cuộc hành tŕnh và những nhận xét của tác giả về
các miền đất đă đi qua ở Phương
Đông từ Biển Đỏ cho tới Nhật Bản,
trong đó có tả vương quốc Cauchy - chyna tức
Đàng Trong nước Đại Việt thời Lê - Mạc.
Tác giả cho biết có rất nhiều cư dân khai phá vùng bờ biển với một số lớn các
“lancharas”, một loại thuyền buồm đi nhanh.
Trong các tài liệu cổ của Việt Nam
đă dẫn trên cho biết đội Hoàng Sa chèo năm chiếc
thuyền câu nhỏ gọi là “ tiểu điếu thuyền”
(Phủ Biên Tạp Lục )
hay “tiểu thuyền” ( Dư
Địa Chí và Hoàng Việt Địa Dư Chí).
Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sưï như đă tŕnh bày ở
trên, cũng viết “Thời quốc vương trước,
hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm vàng bạc khí cụ của
các thuyền buôn tấp vào. Mùa thu nước ṛng cạn, chảy
rút về hướng Đông, bị một ngọn sóng
đưa thuyền đi có thể trôi xa cả trăm dặm;
sức gió dâng mạnh, sợ có hiểm họa Trường
Sa...”. [ 116 ,125 ] Cũng trong Hải Ngoại Kỷ Sự,
Thích Đại Sán có nói đến thuyền đánh cá ấy
gọi là thuyền Điếu Xá. Chính chúa Nguyễn
Phúc Chu cũng đă cho thuyền Điếu Xá (thuyền
đánh cá) đón tiếp đệ tử và vật hàng của Thích
Đại Sán đến sau tại đảo Tiên Bích Sa
(Cù Lao Chàm).
Khi Thích Đại Sán rời Quảng
Đông đi bằng loại thuyền lớn, chứa tới
bốn trăm người phải dùng cả 2 chiếc
thuyền nhỏ dẫn đường. Tuy thuyền đi mau như bay nhưng có lần
bị mắc cạn, có lần suưt bị nạn v́ không theo lối thuyền con chỉ dẫn.
Căn cứ vào ghi chép của sách sử Việt
Thuyền đánh cá thế kỷ XVII, XVIII ở
nước Đại Việt giản dị nhất ở
khu vực Sa Kỳ, Cù Lao Ré. Theo tài liệu được
lưu lại ở đảo Cù Lao Ré mà ông Nguyễn Hạp
xuất thân từ gia đ́nh ngư dân lâu đời ở
Cù Lao Ré đă vẽ, th́ thuyền loại này có mê hay đáy
dưới bằng tre đan rồi quét cứt trâu, rồi
dầu rái lên. Song phía trên thành thuyền làm bằng gỗ
tṛ hay sao, có 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền
và các bộ phận không quan trọngï như các then th́ làm bằng
gỗ mù u có sẵn ở địa phương. Chính dân chài tự đóng thuyền lấy.
Tuy nhỏ song lại nhẹ dễ chạy nhanh và thường
chạy bằng buồm, có loại buồm như Thích
Đại Sán kể
giống chiếc ŕu. Nhỏ, nhẹ, ít
người lại chọn thời điểm thuận
gió th́ thuyền đi nhanh gấp 10 lần như Thích Đại
Sán ghi chép như trên. Thường thuyền ở khu
Cù Lao Ré - Sa Kỳ có 3 cánh buồm đan bằng lá, các dụng
cụ như lu chứa nước
đều bằng tre. Gần đây ở Cù Lao Ré c̣n thấy
một vài thuyền đánh cá có cấu trúc tương tự
như những thuyền truyền thống xưa của
vùng này, đi biển xa như Hoàng Sa. (xem h́nh vẽ 2.55 và 2.56).
Sự thực lịch sử đă cho biết
các thuyền đánh cá Việt Nam với vật liệu
nhẹ như trên, nhỏ bé đă dễ dàng né tránh các
đá san hô cũng như dễ dàng cập được
vào bờ các đảo san hô ở
Hoàng Sa và cũng thích hợp hoàn cảnh dân chài biển vùng
Sa Kỳ - Cù Lao Ré, đă hoàn thành sứ mạng lịch sử
của ḿnh.
Với những nhiệm vụ và tổ chức
hoạt động kể trên, đội Hoàng Sa thu lượm trước hết những hải
vật qúi lạ ở Hoàng Sa như hải
sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có
châu ngọc lớn như
ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con
trai châu song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ
ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ , người ta
có thể dùng để dát các đồ dùng; có thứ đại
mạo hay đại mội , tức con đồi mồi
rất lớn hay con hải ba
(ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống
như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).
Những hải sản quí trên tuy cũng có nộp
cho nhà vua theo qui định, song thường
vẫn cho đội Hoàng Sa bán, thường th́ bán cho thị
trường ở Hội An tiêu thụ nhiều và có giá
hơn.
Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu
đắm mà Toản Tập
Thiên
Lê Qúi Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận
Hoá trong Phủ Biên Tạp Lục có viết: “ông tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu”
, người chỉ huy đội Hoàng Sa trong nhiều năm đă vào Phú
Xuân nộp các sản vật thu lượm được
từ Hoàng Sa cụ thể như sau:
- Năm Nhâm Ngọ (1702) ,
đội Hoàng Sa lượm được bạc 30 thoi.
- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được
thiếc 5100 cân.
-Năm Ất Dậu, lượm được
bạc 126 thoi.
C̣n từ năm Kỹ Sửu (1709) đến
năm Qúi Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh
thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải
sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được
mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu
súng đồng.
Chính P. Poivre viết trong du kư năm 1750 rằng : “Người ta đă thấy ở
đô thành Huế những khẩu súng thần công bằng
sắt cỡ đạn 6 livres, có trang trí chữ ghi của công ty Đông Aán Hà Lan,
những khẩu súng này đă thu lượm được
ở quần đảo Paracels, trong số các di vật của
các tàu đi qua đây bị đắm". (
Journal R.E.O, III, 1885).[66,16]
Chắc chắn trong thời c̣n chiến tranh,
súng đạn thu được ở
các tàu đắm ở Hoàng Sa là rất qúi giá. Việc
đi biển xa (viễn dương) khiến các thành viên
đội Hoàng Sa rất giỏi đi
biển. Chính từ thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị
thủy quân hoạt động mạnh ở Hoàng Sa cũng
đều nhờ những người hướng dẫn hải tŕnh từ những
dân đi biển giỏi trong đó có dân binh đội
Hoàng Sa. Chính v́ thế,
các thuyền thuộc lưu lượng thủy quân triều
Nguyễn từ kinh thành Huế trước khi ra Hoàng Sa phải
tới tập trung ở Quảng Ngăi.
2.2.4 Đội
Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản
của đội Hoàng Sa trong khu vực phía nam của Biển
Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ
cận.
Càng ngày càng có nhiều
đội khác cũng có chức năng và nhiệm vụ
như đội Bắc Hải được thành lập,
v́ chính quyền Nhà Nguyễn dần dần t́m ra các đảo
san hô hết sức rộng ở Biển Đông. Song các
chúa Nguyễn vẫn để đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu
mối, hầu có thể dễ dàng nắm t́nh h́nh ở Biển
Đông.
Như thế người chỉ huy đội
Hoàng Sa là cai đội phải là vị quan lớn như
cai đội Thuyên Đức
Hầu đă được
Lê Qúi Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ)
đến 1713 (Qúi Tỵ). Thuyên Đức Hầu
đă được phong tước hầu. Hoặc
như Phú Nhuận
hầu cũng thế trong tờ tŕnh ngày 1 tháng
10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đă kiêm luôn “khâm sai cai thủ”
cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức “cai cơ thủ ngự”, kiêm quản đội
Hoàng Sa (tờ kê tŕnh của
Phú Nhuận hầu được
lưu giữ tại nhà thờ họ Vơ, phường An Vĩnh
nay là thôn Tây, xă An Vĩnh, huyện Lư Sơn, tỉnh Quảng
Ngăi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống
trộm cướp thời Nguyễn. Chính Phú
Nhuận hầu được giao nhiều chức vụ
quan trọng. Cũng từ đó có uy tín
để kiêm quản các đội khác như đội Bắc
Hải.
Phủ Biên Tạp
Lục, quyển 2 của Lê Qúi
Đôn đă ghi chép rất cụ thể việc đội
Bắc Hải như sau:
“Họ Nguyễn c̣n thiết lập
một đội Bắc Hải.
Đội này không định trước bao
nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ
Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ B́nh-Thuận,
hoặc chọn người làng Cảnh-Dương lấy
những người t́nh nguyện bổ sung vào đội
Bắc- Hải. Ai t́nh nguyện đi th́ cấp giấy sai
đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm
công tác”
"Những người được bổ
sung vào đội Bắc-hải đều được
miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt
vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua
đ̣.
Những người trong đội đi thuyền
câu nhỏ ra các xứ Bắc-hải, cù lao
Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà-Tiên để t́m kiếm,
lượm nhặt những hạng đồi-mội, hải-ba,
đồn-ngư (cá heo lớn như con heo), lục-qúi-ngư,
hải-sâm (con đỉa biển).
Như thế về tổ chức, đội
Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất,
số lượng tùy theo t́nh h́nh khả năng các thôn Tứ
Chính thuộc phủ B́nh Thuận hay làng Cảnh
Dương, t́nh nguyện và được cấp văn bằng
và sai phái đi hoạt động.
Quyền lợi cũng như đội khác
được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt
vặt như tiền
đi qua đồn tuần, qua đ̣. Không thấy miễn tiền thuế. Cũng
dùng thuyền tư
nhân, thuyền câu. Phạm vi hoạt động ở phía
Ở phía Nam Biển Đông khu vực Trường
Sa hiện nay ít có băo lớn, không nguy hiểm, ít có vụ
đắm tàu nên rất ít thu lượm được
các sản vật từ tàu đắm như vàng bạc,
súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt
là loại cá heo (đồn ngư), ...
Đội Bắc Hải được
các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp
tục ghi chép. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên soạn xong năm 1844 chép rằng
đội Bắc Hải mộ dân thôn B́nh Thuận, Tứ
Chính hoặc xă Cảnh Dương, được lệnh
cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc
Hải lượm hoá vật, cũng do đội Hoàng Sa
kiêm quản. Đại Nam Nhất
Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngăi, soạn xong năm 1882 cũng c̣n viết
"đội Bắc Hải
ra đảo Côn Lôn t́m lấy
hải vật cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản".
Không có tài liệu nào cho biết đội Bắc Hải
ngưng hoạt động trước hay sau đội
Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn đội Bắc Hải
ra đời sau đội Hoàng Sa và trước năm 1776
tức là trước khi Lê Qúi Đôn viết Phủ biên Tạp Lục.
[End – Saudong]