[Start – Saudong - 2188]

2.2.5 Các hoạt động của thủy quân triều đ́nh Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

2.2.5.1 Các hoạt động đo đạc thủy tŕnh, vẽ bản đồ về Hoàng Sa và Trường  Sa

Từ thế kỷ XVI, các nhà hàng hải và thám hiểm Bồ Đào Nha, rồi sau đó Hoà Lan đă khảo sát và vẽ những bản đồ về quần đảo. Hoàng Sa gọi là Parcel hay Pracel

được vẽ trên bản đồ thành suốt một vệt dài h́nh lưỡi kiếm từ vĩ độ 17 Bắc xuống tới vĩ độ 10 Bắc. Càng xuống phía Nam, càng hẹp như đă tŕnh bày ở trên đây. Sang thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong bắt đầu quan tâm đến Biển Đông. Bản đồ xưa nhất có ghi Băi Cát Vàng ở Biển Đông c̣n lưu giữ đến ngày nay là bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (năm 1686). (h́nh 1. 1)

Tuy nhiên, c̣n  rất ít  tài liệu được lưu giữ đến ngày nay, một phần do chiến tranh tàn phá, song chắc chắn các chúa Nguyễn đă có những cuộc khảo sát, đo đạc thủy tŕnh để vẽ bản đồ ở  vùng biển Hoàng Sa, bởi không có công việc như thế , làm sao có được bản đồ  ghi Băi Cát Vàng trong Toản Tập An Nam Lộ Đồ hay Toản Tập An Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hoặc “Thuận Hoá Quảng Nam Địa Đồ Nhật Tŕnh” có vẽ “ Trường Sa “ ở ngoài xă Du Trường (Cù Lao Ré và đi mất 2 ngày!  Vả lại,Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, quyển 8 c̣n chép: "Năm Tân Măo, Hiến Minh Hoàng Đế năm thứ 20 (1711), mùa hạ, tháng 4 (âm lịch), sai đo băi cát Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu"  . Cho dù băi cát “Trường Sa”  ở đây chính là Băi Hoàng Sa ở ngoài biển hay ở đất liền cũng có băi gọi là “Trường  Sa “ , th́ đoạn văn ghi trên đă khẳng định một điều rằng Chúa Nguyễn đă có kế hoạch đo đạc các băi cát ! Đo đạc các băi cát trong đất liền đâu có quan trọng mà c̣n làm, huống chi bài cát dài ở ngoài biển  c̣n có nhu cầu đo đạc hơn nhiều nhất là cần thiết cho hàng hải, tất cũng phải đo đạc không sớm th́ chầy !

Trước khi lên ngôi hoàng đế 1802, Nguyễn Aùnh cũng đă được anh em Dayot giúp đo đạc hải tŕnh ở Biển Đông trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa .

Lúc đầu đội Hoàng Sa có trách nhiệm  xem xét đo đạc thủy tŕnh như thời Gia Long, tháng giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Aûnh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy tŕnh. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xă Lư Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lư Sơn ( Cù Lao Ré). Đến năm Gia Long thứ 15, năm Bính Tí (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả thủy quân phối hợp với đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy tŕnh 

Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy tŕnh chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải tŕnh.

Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 : “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô  nhằm thượng tuần tháng hai th́ đến Quảng Ngăi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”. [101]

Đo đạc thủy tŕnh hay hải tŕnh là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển trong đó có vùng biển Hoàng Sa . Việc đo đạc thủy tŕnh và sau đó  vẽ bản đồ ở Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám thành,với địa phương Quảng Ngăi và đội Hoàng Sa.

Mỗi lần đi đo đạc phải chọn được thợ lái có năng lực, biết được các nơi đường biển nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm mà tránh, c̣n phải biết lấy núi nào làm chuẩn, biết chiều trời, tiết gió để chuyển phương hướng, nên tiến hay dừng. Theo sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 220  của triều Nguyễn th́ Bộ Công tâu rằng người nào mười phần am hiểu thông thạo th́ cho vào hạng ưu, thạo tám chín phần là hạng b́nh, thạo năm sáu phần là hạng thứ, châm chước bàn đinh, ai đáng đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng, ngoại ủy đội trưởng, ai đáng cấp tiền gạo gấp đôi... th́ kê  sách tâu rơ đợi chỉ gia ân. Những lời dụ và bàn được chuẩn y như sau: "Thơ lại thủy sư th́ cửa biển hiểm hay dễ, xem gió, trông khí trời, nghiên núi, ḍ nước, nh́n kiếm t́m hướng, nhớ rơ địa cầu, ai được mười phần am hiểu thông thuộc là hạng ưu, ai được tám chín phần là hạng b́nh, ai được  có năm sáu phần là hạng thứ. Các tên dư hạng ưu mà nguyên là chánh đội trưởng th́ đề bạt bổ nhiệm làm cai đội, nguyên là  đội trưởng th́ đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng suất đội, ai là ngoại ủy đội trưởng th́ đề bạt  bổ nhiệm làm đội trưởng, gặp khi có khuyết th́ ưu tiên bổ nhiệm ngay" [ 93  ].

Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 220  cũng chép: “Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều lần, được xong xuôi ổn  thoả cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc, cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường, thuyền rất nguy khốn, mà tự ḿnh chủ tŕ tiến ngừng phải tốt, rốt cuộc được xong xuôi yên ổn th́ đều là hạng ưu. Phàm trong năm ấy sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn cả th́ là hạng b́nh. Sai phái đường bể một lần xong xuôi yên ổn là hạng thứ. Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt” [  93  ]

Trên đây là quy định chung cho thuỷ quân đi biển  và thủy quân đi đến Hoàng Sa vừa là dịp để khảo hạch và cũng là dịp luyện tập thủy quân, căn cứ vào đó mà thưởng phạt. Có thể đối với việc đo đạc ở Hoàng Sa, thưởng phạt đặc biệt hơn. V́ thế từ thời vua Minh Mạng năm thư 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi v́ gió băo phải đ́nh lại, sau lại tiếp tục. Tỷ như năm Thiệu Trị thứ 5 (1845)  có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đ́nh hoăn, đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng cho đ́nh hoăn do Bộ Công tâu xin  hoăn. Sau đó đến thời Tự Đức không c̣n ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lệ sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên thời Tự Đức những việc đă thành lệ rồi không c̣n chép nữa.                                                                            

Thời gian đi văng thám đo đạc ở Hoàng Sa th́ bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân, (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngăi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngăi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể . Như năm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng v́ gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được . Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc  giáp ṿng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.      

Nếu chậm trễ mà có lư do chính đáng th́ không sao, song nếu tùy tiện th́ bị phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn  tất tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835) , cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đă có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị  phạt  80 trượng, song cho phục chức cai đội . Tộc họ Phạm Văn hiện có nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông xă Lư Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lư Sơn. Các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng.  Song cùng đi chuyến này những người trong đội Hoàng Sa  như Vơ Văn Hùng (tộc họ Vơ hiện c̣n từ đường ở thôn Tây, xă Lư Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh, thuộc huyện đảo Lư Sơn),  Phạm Văn Sanh (hiện họ Phạm Văn c̣n từ đường và khu "lăng" mộ ở thôn Đông, xă Lư Vĩnh, huyện đảo Lư Sơn) hướng dẫn, đo hải tŕnh vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền  Phi Long ngân tiền và b́nh thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngăi và B́nh Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Cũng thế vào năm Minh Mạng 18 (1837), do khởi hành chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Vơ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh (lần trước được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngăi và B́nh Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền . Những chi tiết trên đă minh hoạ rất hùng hồn việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trong việc đo đạc thủy tŕnh và vẽ bản đồ.

Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được qui định cũng rất rơ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165  cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ , quyển 221 như sau:

Không cứ đảo nào, cửa  bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở t́nh thế hiểm trở hay b́nh thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đă đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về tŕnh lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm” [ 93 ].

Như thế việc đo đạc phải kết hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ hoạ đồ lại là các viên giám thành  (2.26).

Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn đă được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đă bị phạt mỗi người 80 trượng như đă nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rơ nên làm thế nào. Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ tŕnh sau khi đo đạc 3 nơi với 12 ḥn đảo đă vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung , song cũng chưa vẽ rơ ràng lắm , Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn [ xem phụ lục số 2.8 (a) , 2.8(b) ]

[End – Saudong]

 

Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ nhà Nguyễn  tuy có kỹ, chu đáo hơn trước, song vẫn c̣n lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của Phương Tây lúc bấy giờ (2.27), nhất là chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu. V́ thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải chỉ có hải đồ là có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến những người từng trải đă từng lái thuyền đến các vùng biển đă đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở vệ giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4 - 7 - 1885 và cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh thành bị đốt phá, đă không c̣n giữ lại những tập bản đồ qúi giá về Hoàng Sa đă được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đă vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa.

2.2.5.2 Các hoạt động cắm cột mốc, bia chủ quyền để xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XIX.

Sang thế kỷ XIX,  sau khi lên ngôi hoàng đế, thiết lập triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, Nguyễn Aùnh đă bắt đầu tiếp tục tái lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động của đội Hoàng Sa trong thời gian đầu và của thủy quân.

 Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng  như Chaigneau, giám mục Taberd đă viết rất rơ về những hành động của vua Gia long  như Chaigneau đă viết  trong hồi kư “Le mémoire sur la Cochichine" “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đă chiếm hữu quần đảo ấy” hay giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đă long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đă cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đă thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam ". Những người Phương Tây trên không phải là những nhà nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền của Việt Nam như thế nào ở Hoàng Sa. Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển 50   đă ghi chép hoạt động của đội Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy tŕnh do Phạm Quang Aûnh làm đội trưởng vào năm 1815. Đến năm 1816, vua Gia Long lần đầu tiên  ban  lệnh  cho  thủy quân với sự hướng dẫn của dân binh đội Hoàng Sa đi xem xét, đo đạc thủy tŕnh ở quần đảo Hoàng Sa  (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 52).

Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân này đă đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đă khiến cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng định vua Gia Long đă chính thức xác lập chủ quyền của ḿnh như đă nói trên. Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ đánh mốc là Hoàng Đế Gia Long sử dụng thủy quân thay v́ chỉ  có đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy tŕnh , khai thác hải vật như trước.

Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, thủy quân hàng năm liên tục đă thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi văng thám, đo đạc thủy tŕnh, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. …

 Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh  địa phương trong có dân binh đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội  hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy quân đóng ở kinh thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái c̣n các viên giám thành trong vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đă tŕnh bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng ngăi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời c̣n điều động binh dân ở tỉnh Quảng Ngăi, Có khi gồm cả dân binh tỉnh B́nh Định như trong chuyến công tác năm 1835 và 1837 đă dẫn trên đây.

Nhiệm vụ của “ lực lượng đặc nhiệm” luôn được hoàng đế Việt Nam theo sát và ra chỉ dụ cụ thể nhất là dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm này  quan trọng đến chừng nào.

Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rơ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu tŕnh lên vua về chuyến văng thám  Hoàng Sa của thủy quân, chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải) : “Báo gấp cho Quảng Ngăi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên"  và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”. Cũng chính vua Minh Mạng theo dơi các chuyến đi công tác Hoàng Sa và đă nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dân binh đội Hoàng Sa Quảng Ngăi, B́nh Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. C̣n các viên chỉ huy như cai đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội.

Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa cũng được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thủy quân là chính phối hợp với vệ giám thành, và tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định.

Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rơ: “Xem từ năm  nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh (28) và giám thành đáp 1 chiếc thuyền  ô, nhằm thượng tuần tháng hai th́ đến Quảng Ngăi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định  thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra  xứ Hoàng Sa”. Như thời gian hàng năm chuẩn bị tưø hạ tuần tháng giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 dương lịch) th́ có mặt ở Quảng Ngăi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc biển yên nhất th́ khởi hành đi Hoàng Sa .

Thuyền  ô là thuyền sơn đen từ mũi đến lái dài 4 trượng    thước, rộng 8 thước 4 tấc, 3 thước 2 tấc, 30 cọc chèo  . Từ thời Minh Mạng thứ 15 (1834), có chỉ dụ các tỉnh có vùng biển như tỉnh Quảng Ngăi nên đóng hai ba chiếc thuyền nhanh, cứ mộ dân ven biển sung làm thợ lái, thủy thủ, mỗi thuyền cần đủ trên dưới 20 người, làm thủy binh thuộc tỉnh khi gặp việc khẩn cấp để tuần tiễu, thông báo, vận tải cho nhanh. Thuyền nhanh này cũng theo qui thức h́nh dáng thuyền Điếu hải dài 4 trượng  thước 5 tấc, rộng 1 trượng 5 thước 5 phân, sâu 5 thước 1 tấc. 

Từ Quảng Ngăi, phải thuê 4 chiếc thuyền của dân. Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ hơn thuyền Điếu hải thuộc thủy quân ở các tỉnh trong đó có tỉnh Quảng Ngăi. Sở dĩ phải thuê v́ thuyền của dân binh đội Hoàng Sa vốn nhanh nhẹ, dễ dàng cặp đổ bộ vào đất liền, dễ dàng tránh né các băi ngầm, các thủy thủ lại quá quen thuộc, chưa kể thuyền ít người mang lương thực cung cấp cho sáu tháng dễ dàng hơn, và việc bắt chim, đánh cá để tự  cung ứng cấp dưỡng cũng không c̣n là vấn đề lớn, để có thời giờ làm việc, đi thu lượm hải vật qúi, lấy hàng hoá, súng ống từ tàu đắm. Tài liệu không cho biết rơ thuyền ô có đi theo ra Hoàng Sa hay không. Song ít nhất lực lượng thủy quân trên có 4 chiếc thuyền câu. Cũng có năm đi 5 thuyền th́ có thể cả thuyền ô khi lực lượng thủy quân đặc nhiệm này đă kết hợp với công tác của đội Hoàng Sa. Và như vậy sau này người ta không thấy sử sách nói nhiều về đội Hoàng Sa nữa, v́ lực lượng thủy quân đặc nhiệm này trở thành chủ yếu và thường xuyên của nhà nước Việt Nam, và đội Hoàng Sa mang tính dân sự càng ngày càng đậm nét hơn, chủ yếu hoạt động về lợi lộc tư nhân, về kinh tế  mà thôi.

Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui củ có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy tŕnh, vẽ bản đồ c̣n có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6  đă ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đă thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lư Ba B́nh”. Như thế trước thời Minh Mạng đă có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.

Đến năm Minh Mạng thứ 14  (1833), vua Minh Mạng đă chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền . Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đă chép rất rơ từ năm  Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc  đo đạc thủy tŕnh, vẽ bản đồ và c̣n cắm cột mốc, dựng bia.   Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đă nêu rất rơ: “Mỗi thuyền văng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 c̣n ghi rơ : “Vua Minh Mạng đă  y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái  bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và  dày 1 tấc,  mặt bài khắc những chữ:

Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phâm Hữu Nhật phụng mệnh văng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.

( Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc,  đến đây lưu dấu để ghi nhớ).

Mỗi năm cột mốc đều khắc rơ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy “lực lượng thủy quân đặc nhiệm”, được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rơ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như cai đội thuyền   Phạm Văn Nguyên  năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thủy sư suất đội Phạm Văn Biện  năm Minh Mạng thứ 18 (1837), th́ số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4,5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đảo, song rất khó tổng kết tổng cộng trên thực tế cắm cột mốc được bao nhiêu đảo.

2.2.5.3 Xây dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đă chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngăi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế nhà đá . Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đă cho biết rơ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đă không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến măi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng  đă cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng.  Bên trái miếu, phía trước miếu xây b́nh phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.

Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng sau đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông, th́ các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để t́m dấu mà nhận. Như thế cây trồng ở Hoàng Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ không trồng theo kiểu trồng loại cây con. Đó cũng hợp lư v́ mang cây con ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo dưỡng được cây sống để mà trồng. Thời gian hoạt động hàng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây.  Ư của vua Minh Mạng sai trồng cây cũng cho rằng gần đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu dễ nhận ra đảo mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo.