CHƯƠNG 3
TIẾP TỤC
CỦNG CỐ, KHẲNG ĐỊNH VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TỪ KHI BỊ CÁC NƯỚC NGOÀI XÂM
PHẠM
3.1. TIẾP
TỤC CỦNG CỐ, KHẲNG ĐỊNH VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1909 ĐẾN NAY.
3.1.1
Thời kỳ từ năm 1909 đến 1945.
Trong suốt thời
kỳ Pháp thuộc, chế độ bảo hộ Pháp có viên Khâm sứ đứng đầu Trung
Kỳ, khu vực có trách nhiệm quản
lý quần đảo Hoàng Sa. Trong khi Nam Kỳ, quản lý quần đảo Trường Sa,
lại ở dưới chế độ thuộc địa
Pháp, song thực chất tất cả đều thuộc chế độ đô hộ kiểu trực
trị của Pháp. Mọi quyền hành trong tay Pháp. Chính quyền Nam
Triều chỉ có trên danh nghĩa, song trên thực tế chính quyền thuộc
địa Pháp đã có những hành động cụ thể củng cố,
khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Trước năm 1909
chưa hề có một bản đồ nào của Trung Quốc ghi tên Tây Sa và
Nam Sa. Cuốn sách "Trung Quốc Địa Lý Giáo Khoa Thư" do
Thượng Hải Thượng Vụ Aán Thư Quán, xuất bản năm 1906 ghi điểm cực
nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam như sau: "Phía nam bắt đầu là vĩ độ 18013B
lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm
mút". [ 58 ]
Ngay trong những bộ sưu tập tư liệu để minh
chứng chủ quyền Tây Sa của Trung Quốc đối với cái gọi là Tây Sa như
"Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo
Sử Liệu Hội Biên" do nhóm Hàn Chấn Hoa chủ biên, xuất bản
năm 1988, người ta cũngchỉ thấy đến năm 1913 mới bắt đầu xuất
hiện bản đồ vẽ Đông Sa, rồi sau đó mới vẽ Đông Sa và
cả Tây Sa vào những thập niên 20 của thế kỷ XX. Đến tháng 4
-1935, chính quyền Trung Quốc mới in bản đồ có tên quần đảo Nam Sa song
lại là bãi ngầm Macclesfield Bank, và Đoàn Sa là khu
quần đảo Spratly tức Trường Sa của Việt Nam.
Sau chiến tranh Trung - Nhật năm 1894 -1895, Nhật
chiếm Đài Loan và có chiều hướng bành trướng thế lực xuống Đông Nam
Á. Sau đó, Nhật chiến thắng trong chiến tranh Nga - Nhật 1905, Trung
Quốc rất e ngại thế lực của Nhật, tìm cách hạn chế thế lực
của Nhật xuống phía Nam.
Ngày 2 tháng 7 năm 1907, thương gia Nhật Bản tên
là Nishizawa Yoshiksugu (Si - Chứa -
Cô - Sư) vốn ở Cơ Long thuộc Đài
Loan đã liên kết 120 người đổ bộ lên đảo Pratas (3.29) làm nhà, dựng cột dài
70 thước, treo cao cờ Nhật và trồng cây nêu cao 15 thước, ghi chép tỉ
mỉ lịch sử phát hiện, đặt
tên đảo là Nishizawa (Si- Chức hay Tây Trạch); quần đảo này
ở 19042 vĩ độ Bắc va 116042ø kinh độ Đông, cách
Hương Cảng 108 hải lý. Người Nhật đã cắm cột gỗ có
viết ghi tháng 8 năm Minh Trị và mặt sau viết "đảo Tây
Trạch".
Sau đó chính quyền Đài Loan thuộc Nhật đã
cử viên chức đến đây và đuổi thuyền đánh cá thổ dân đi. Tổng Đốc
Quảng Đông lúc bấy giờ là Trương Nhân Tuấn đã nhiều lần trình lên cho
triều đình Nhà Thanh ở Bắc Kinh để thương thảo với chính phủ
Nhật trả lại. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc điện cho Tổng Đốc Trương Nhân
Tuấn giao thiệp với lãnh sứ
Nhật ở Quảng Châu để giành lại đảo này. Để có căn cứ, Trung Quốc
đã lấy tên Đông Sa, một hòn đảo nằm ngoài khơi tỉnh Quảng
đông, đã được ghi trên bản đồ “Duyên Hải Toàn Đồ” trong
sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1730) để đặt tên
cho đảo Pratas. Đến ngày 7 tháng 10 năm 1907, Nhật trao lại đảo này
cho Trung Quốc.
Khi xảy ra sự kiện Nhật dòm ngó đảo Pratas vào
năm 1907, chính quyền Trung Quốc, nhất là chính quyền Quảng Đông rất
nhạy bén về chủ quyền của Trung Quốc, mới bắt đầu đặt tên Đông Sa
cho quần đảo Pratas như nói trên, sau
đó là Tây sa cho quần đảo Paracels tức Hoàng Sa của Việt Nam, rồi
mãi về sau vào thập niên 30 mới đặt tên Nam Sa cho bãi
ngầm Macclesfield Bank (sau gọi là Trung Sa).
Như thế sự
kiện Nhật nhòm ngó đảo Pratas vào
năm 1907 đã khiến Trung Quốc bắt đầu quan tâm đến việc xâm
phạm chủ quyền Hoàng Sa (Paracels), trong khi Việt Nam đang bị
Pháp đô hộ, quyền ngoại giao hoàn toàn giao cho Pháp theo hiệp ước
Patenôtre (năm 1884). Chính bức thư của lãnh sự Pháp Beauvais ở
Quảng Châu gửi Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp ngày 4 tháng 5 -1909
đã nêu ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa của
Việt Nam khi viết: "Như tôi
đã trình bày với ông khi kết thúc bản báo cáo gần đây
của tôi (số 86 ngày 1 tháng 5 năm 1909) về vấn đề các đảo Đông Sa
(Pratas), vấn đề này khiến chính phủ Trung Quốc chú ý đến các nhóm
đảo khác nằm dọc bờ biển của Thiên Triều và tới một mức độ nhất
định có thể được coi như một bộ phận của Thiên triều, trong đó
có quần đảo Paracels".[
155 , 206 ]
Cũng trong thư trên đề ngày 4 tháng 5 năm
1909, lãnh sự Pháp ở Quảng Châu gửi cho Bộ Trưởng Bộ Ngoại
Giao Pháp có một số nội dung đáng lưu ý sau đây:
-
Do ảnh
hưởng của việc Nhật chiếm Pratas (Đông Sa), Trung Quốc muốn chiếm
luôn quần đảo Paracels gần Hải
-
Cuộc khảo
sát tráiphép đầu tiên là của Đoàn Ngô Kính Vinh đã cho thấy
ở mỗi đảo Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà
đá (tất cả tường mái là đá san hô và vỏ sò). [ 155 ,207 ]
-
Các ngư dân
Việt
P.A. La Picque hồi năm 1909 đang cư trú ở Hồng
Kông đã thuật lại cuộc khảo sát Hoàng Sa của chính quyền tỉnh
Quảng Đông năm 1909 như sau:
"Vào
cuối tháng 5 - 1909, hai pháo hạm nhỏ ở Quảng Châu chuẩn bị ra
khơi, trên tàu có hai người Đức thuộc Maison Carlwitz, ngoài ra còn có
các thủy thủ Trung Quốc, trong đó hình như có một đô đốc
"đường sông", nếu như hạm đội nhỏ đó, nhờ có đất liền che
chắn, đến được cảng Du Lâm, một cảng ở phía nam đảo Hải Nam một
cách khá dễ dàng, thì nó vẫn bị nghẽn
ở đó đến nửa tháng, chắc là để chờ ra khơi thì các đợt gió "Fong
- sami" trở nên thuần lại và thường làm cho các nhà hàng hải
dũng cảm đỡ say sóng".
"Cuối
cùng, ngày 6 tháng 6 năm 1909 (tức là ngày 19 âm lịch) phái
đoàn trông thấy một đảo trong quần đảo Paracel rồi thăm vài đảo, và đến ngày 7 tháng
6 năm 1909, lúc 4 giờ chiều, hai pháo hạm thẳng đường quay lại Quảng
Châu như ờ báo Kono Che pao (tờ báo lớn nhất Quảng Châu) cho biết
trong một bài báo ngày 20 tháng 6 năm 1909. [166].
Sau việc khảo sát
trái phép tượng trưng này, Tổng đốc Trương Nhân Tuấn năm Tuyên
Thống thứ nhất liền gởi trát (công văn) ủy cho Tổng Biện Trực Lệ,
Nhiệt Hà Đạo Vương Bỉnh Ấn ở Trù Biện Sứ Cục Tư Nghị và Lý
Triết Tuấn ở Bổ Phụng Đạo cùng nhau trù liệu đường lối kinh doanh
quần đảo Paracels. Trù Biện Tây Sa
Đảo Sự Vụ Xứ đã thiết lập 10 điều đại cương về biện pháp khi
xem xét lại Paracels, trong đó điều 1 nói về kế hoạch đo đạc ở
Paracels (điều mà Việt Nam đã thực hiện rất kỹ càng từ
thời các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị vào nửa đầu thế kỷ
XIX), và điều 10 xin được phái 3 quân hạm: Phục Ba, Thấm Hàng và
Quảng Kim cùng đi và mượn chiếc xuồng con của hải quân treo trên
quân hạm để đi lại nhanh chóng và thuận tiện. Hai việc trên
đã được Trần Thiên Tích viết lại trong phần Tây Sa Đảo Thành
Án Hội Biên trong cuốn Tây Sa đảo, Đông Sa đảo, Thành Aùn Hội
Biên, 1928. Sau đó các ty, đạo
của "Trù Biện Tây Sa Đảo Sự Vụ Xứ" trên đã báo cáo
lên tổng đốc Trương Nhân Tuấn 8 biện pháp cụ thể, tổng đốc
Trương Nhân Tuấn đã gửi tờ tấu lên triều đình nhà Thanh.
Song từ đây cho đến khi Pháp nhân danh Việt Nam
có những hành động cụ thể
thực thi chủ quyền ở quần đảo Paracel tức Hoàng Sa, chính quyền Trung
Ương ở Bắc Kinh vẫn chưa mấy
mặn mà với vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây
Sa, chưa có những hoạt động cụ thể mà chỉ là những hành
động của chính quyền địa phương: tỉnh Quảng Đông. Hành động của
chính quyền một tỉnh không khi nào
được các nước thừa nhận và có giá trị pháp lý quốc tế cả!
Đáng tiếc là về
phía Pháp, theo hiệp ước 1884, lẽ ra phải có nhiệm vụ lên
tiếng phản đối những hành động của Trung Quốc (dù đó là của
chính quyền địa phương), song
lại im lặng. Đúng như nội dung văn thư số 35 của ông Wilden, đại sứ
đặc mệnh toàn quyền Pháp ở Trung Hoa gửi cho Bộ Ngoại Giao Pháp A.
Briand ngày 28 tháng 7 năm 1930 :"Mặc
dù nước Pháp chưa bao giờ chính thức công nhận các quyền của Trung
Quốc trên quần đảo này thì vẫn còn chuyện chúng ta
rõ ràng đã bỏ qua không phản đối tất cả các hành vi mà
Trung Quốc quan tâm tới việc ngắt quãng định kỳ thời
hiệu, có thể chống lại
họ, đang tìm cách từ vài năm nay chứng tỏ rằng họ coi quần
đảo Hoàng Sa như bộ phận phụ thuộc vào lãnh thổ họ và đang
cố gắng đặt chúng ta trước việc đã rồi".[155,232]
Trong khi đó,Triều đình Huế chỉ còn là hư
vị từ thời vua Đồng Khánh. Trong thời vua Khải Định, quyền
hành ở trong tay viên khâm sứ người Pháp là Le Fol. Sau khi người Trung Quốc sáp nhập hành chánh
quần đảo Paracels vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Đông
vào ngày 30 tháng 1 năm 1921 bằng một mệnh lệnh của chính quyền quân
sự miền Nam Trung Hoa , thì chính quyền thuộc địa Pháp càng
ngày càng quan tâm đến Hoàng Sa.
Từ năm 1909 đến 1925, chính quyền thuộc địa
Pháp ở Việt Nam tuy càng ngày càng nhận thức tầm quan trọng của
Hoàng Sa về mặt chiến lược, nằm trên lộ trình hàng hải từ
Sàigòn đi Hồng Kông, rất e ngại một nước nào đó chiếm cứ vị
trí chiến lược này, song còn rất mù mờ về quá trình xác lập
vương quyền Việt Nam trên quần đảo này.
Tài liệu lưu trữ, tư liệu của Phủ Toàn
Quyền Pháp ở Sàigòn cũng như Bộ Thuộc Địa Pháp
không có thông tin gì về chủ quyền lâu đời của "vương
quốc Việt Nam", chỉ biết Hoàng Sa vẫn còn có những
người Việt Nam ở Trung Kỳ "mang cả vợ con" đi đánh cá, sống
ở đảo Hoàng Sa và có những xô xát đẫm máu với
những người Trung Hoa ở Hải
Nam và như thế chính quyền Pháp cho rằng có quyền ngang hàng khi chính
quyền Trung Quốc chiếm hữu.
Mãi đến năm 1925, theo Khâm Sứ Trung Kỳ
LeFol viết trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1926 gởi cho Toàn Quyền Đông
Dương, người Pháp mới bắt đầu nghiên cứu sâu quá trình xác
lập chủ quyền của "vương quốc Việt Nam" tại quần đảo Hoàng
Sa, trước khi cử ông Giám Đốc Viện Hải Dương Học Và Nghề Cá Ở Nha
Trang - ông M.A. Krempt đi thám sát Hoàng Sa. [155, 173]
Qua kết quả nghiên cứu tìm hiểu về Hoàng
Sa, Khâm Sứ Trung Kỳ LeFol trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1929 gửi Toàn
Quyền Đông Dương cho biết :
"Trong tác phẩm (Géographie de la Cochinchine được dịch ra
Tiếng Anh và đăng trong tạp chí Journal de la Société Asiatique de
Bengale năm 1838, đức cha Jean Louis Taberd, giám mục Ismaropolis (Khâm
Mạng toà thánh tại Nam Kỳ, Cao Miên và Champa) đã kể lại việc
Hoàng Đế Gia Long đã chiếm hữu quần đảo Paracels năm 1816
và long trọng kéo lá cờ Nam Kỳ trên quần đảo. Việc chiếm hữu
đó đã được các Biên Niên Sử của chính quyền An Nam hay Đại Nam
Nhất Thống chí , Nam Việt Địa Dư tập 2 hay địa dư nước An
Nam, xuất bản năm thứ 14 đời Minh Mạng và cuối cùng "Đại Nam
Nhất Thống Chí" quyển 6 hay "Địa Dư Duy Tân";”các
tài liệu trong kho lưu trữ của chính phủ An Nam cung cấp cho ta
những chi tiết về hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải
đặt dưới quyền chỉ huy của đội Hoàng Sa”[155, 173]
Khâm Sứ
LeFol viết tiếp: " Sau khi Trung Quốc có yêu sách
vào năm 1909, vì nước Pháp thay mặt nước An
Và cũng chính trong bức thư kể trên, ông
LeFol đã cho biết trước khi
mất, ông Thân Trọng Huề, thượng thư bộ Binh của triều đình Huế
đã viết một văn thư ngày 3 tháng 3 năm 1925 khẳng định
rằng : "Các đảo nhỏ đó bao giờ
cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh
cãi trong vấn đề này".[155 , 174 ]
Rõ ràng, lúc đầu vì không nắm được
lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo, nên
chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã bỏ qua sự phản
kháng đối với việc khảo sát trái phép của Trung Quốc. Nhưng sau khi
nắm được tình hình về cơ bản thì họ đã có
một loạt hành động thực hiện và củng cố chủ quyền quốc gia Việt
Người Pháp cho rằng Hoàng Sa vốn đã thuộc
chủ quyền Việt Nam, không cần một hành động chiếm hữu chủ
quyền trên quần đảo Hoàng Sa nữa, nên Viện Hải Dương Học Và
Nghề Cá Nha Trang (L’institut Océanographique de Nha Trang) đã thực hiện cuộc khảo sát đầu
tiên năm 1925 bởi tàu khảo sát kéo lưới
Chalutier De Lanessan do M.A. Krempt, giám đốc, cùng các nhà Khoa
học như De La Cour, Jabouille. Sau đó là tháng 7 năm 1927, Sở Địa
Chất Và Sinh Học Đại Dương cho người tiếp tục khảo sát ở Trường Sa (Spratley).
Các cuộc khảo sát chủ yếu nghiên cứu về
những ám tiêu của các bãi ngầm ở Hoàng Sa như ám tiêu
Découverte. Từ đó tác giả đưa ra lập luận giải thích về sự thành
lập các ám tiêu cùng với ảnh hưởng của gió mùa.
Ngày 8 tháng 3 năm 1925, Toàn Quyền Đông Dương
đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
là lãnh thổ của Pháp.
Tháng 11 năm 1928,Thống Đốc Nam Kỳ cấp giấy phép
nghiên cứu mỏ ở đảo Trường Sa cho Công Ty Phosphat mới của Bắc Kỳ.
Từ năm 1929, dư luận các báo Pháp tại Đông Dương
nêu các vấn đề chủ quyền của
Việt
Trong thư ngày 20 tháng 3 năm 1930, Toàn Quyền
Đông Dương gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp cũng
đã xác nhận rằng : "Tôi
hoàn toàn đồng ý với những người viết thư cho ông là cần
thừa nhận lợi ích nước Pháp có thể có trong việc nhận danh An Nam,
đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa" [ 155 , 159-160 ].Câu này trong bản ghi chú cho
Vụ Châu Á Đại Dương ngày 15 tháng 5 năm1950, Cố Vấn Pháp Luật Bộ
Ngoại Giao Pháp đã viết rất rõ: "Việc chiếm hữu quần đảo Spartley do Pháp tiến hành năm
1931-1932 là nhân danh Hoàng Đế "An Nam". Trong trường hợp
này cái danh nghĩa duy nhất mà Pháp đòi hỏi ở đây là việc thực thi
chủ quyền có từ trước, là những danh nghĩa của "An
Nam", và với tư cách là nước bảo hộ, chịu trách nhiệm về
các quan hệ đối ngoại của "An Nam", Pháp có thể sử dụng
các quyền đó để chặn các nước thứ ba, và có thể nhận được xét xử
quốc tế việc thừa nhận các quyền nói trên [155, 183]. Nếu các
quan hệ điều ước giữa Pháp và "An Nam" vẫn được
xác định bởi Hiệp Ước Bảo
Hộ được ký ở Huế ngày 6 tháng 6 năm 1884 thì về phương diện
này không thể xuất hiện bất kỳ khó khăn nào; và chính phủ Pháp có
quyền bằng cách hành động với danh nghĩa nước bảo hộ, thay mặt nước
bị bảo hộ thi hành các thẩm quyền mà nước bị bảo hộ
này không thể thi hành.
Ngày 13 tháng 4 năm 1930, thông báo hạm La
Malicieuse đã ra Trường Sa và kéo quốc kỳ Pháp trên một điểm
cao. Thông cáo ngày 23 tháng 9 năm
1930 đã thông báo cho các cường
quốc khác về sự chiếm đóng của Pháp trên quần đảo Trường Sa.
Sang năm 1931 và 1932 lại có thêm nhiều bài báo
cũng trên tờ Éveil Économique de l’Indochine rất gay gắt chất
vấn đích danh toàn quyền Pasquier. Chính những áp lực dư luận
báo chí của người Pháp ở Đông Dương mà chính quyền thuộc địa
Pháp không thể làm ngơ.
Ngày 29 tháng 4 năm 1932, chính phủ Pháp gởi
kháng nghị nêu rõ các bằng chứng về sự chiếm hữu
của Việt
Ngày 13 tháng 4 năm 1933, một hạm đội nhỏ thuộc
các lực lượng hải quân Pháp ở Viễn Đông, dưới sự chỉ huy của
trung tá hải quân De Lattre rời Sàigòn đến đảo Trường Sa gồm thông
báo hạm La Malicieuse, pháo thuyền Alerte, các tàu thủy văn Astrobale
và De Lanessan. Sự chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ truyền
của Phương Tây. Một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký
thành 11 bản. Mỗi đảo nhận một bản, được đóng kín trong một
cái chai rồi được gắn trong một trụ xi măng xây trên mỗi đảo
tại một địa điểm ấn
định và cố định trên mặt đất. Người ta kéo lá cờ tam
tài và thổi kèn trên từng hòn đảo.
Ngày 26 tháng 7 năm 1933 , Bộ Ngoại Giao Pháp
đã có một thông tin đăng ở Công báo Pháp (Journal officiel de
la République Française ngày 26-7-1933, trang 7857) về việc hải quân Pháp chiếm hữu
một số đảo thuộc quần đảo và thông báo ghi rõ những
hải đảo và tiểu đảo ghi trong thông tri từ nay đã thuộc chủ
quyền Pháp quốc. Tất cả gồm 6 nhóm :
-
Đảo Spratly
(Trường Sa) 80,39’ vĩ tuyến B - 1110,55’ kinh tuyến Đ
và các tiểu đảo phụ thuộc chiếm hữu ngày 13 tháng 4 năm 1930.
-
Tiểu đảo
Caye d’Amboine (70,52’ B - 1120, 55’Đ) cũng như
các tiểu đảo phụ thuộc chiếm hữu ngày 7 tháng 4 năm 1933.
-
Tiểu đảo
Itu -
-
Nhóm Hai
đảo (110,29’B, 1140,21Đ ) cũng như các tiểu đảo phụ thuộc, chiếm
hữu ngày 10 tháng 4 năm 1933.
-
Tiểu đảo
Loaita (100,42’B, 1140,25Đ) và các tiểu đảo phụ
thuộc, chiếm hữu ngày 11 tháng 4 năm 1933.
-
Đảo
Thị Tứ (110,7B, 1140,16Đ), cũng như
những tiểu đảo phụ thuộc, chiếm hữu ngày 12 tháng 4 năm
1933.
Như thế theo hai thông tri Pháp đã công bố,
từ đầu tháng 4 năm 1933, Pháp chiếm đầu tiên đảo Spratly và đến 12
tháng 4 năm1933 chiếm đảo cuối cùng là đảo Thị Tứ.
Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam Kỳ M.J.
Krautheimer ký nghị định
số 4762, sáp nhập hải đảo Spratly ( Trường Sa) và những tiểu
đảo Caye d’Amboire, Itu - Aba, nhóm Hai đảo, Loaita và Thị Tứ
thuộc quần đảo Spratley nằm trên Biển Đông vào tỉnh Bà Rịa.
(phụ lục 19)
Nghị định trên được ký đã
chiếu theo thông tri đăng trong công báo Cộng Hoà Pháp Quốc ngày 26
tháng 7 năm 1933 của Bộ Ngoại Giao, liên quan đến việc chiếm
hữu một số hải đảo do những đơn vị hải quân, cùng
lúc với các thư số 634 và 2243 - AP ngày 24 tháng 8 và 14 tháng 9 năm
1933 của Toàn Quyền Đông Dương, liên quan đến việc sáp nhập
những hải đảo và tiểu đảo thuộc nhóm Trường Sa (Spratly) hay
Bão Tố (Tempête) và chiếu theo các cuộc thảo luận của Hội
Đồng thuộc địa ngày 22 tháng 10 năm 1933, cùng sự tham khảo ý
kiến của Hội Đồng Tư Vấn.
Từ năm 1934- 1935, Uûy Ban Thẩm Tra Bản Đồ Thủy
Lục do các cơ quan của Bộ Ngoại Giao, Bộ Nội Vụ Trung Hoa Dân Quốc
vào tháng 3 năm 1935 âm thầm bắt đầu đặt tên quần đảo Đoàn Sa cho quần
đảo Spratley tức Trường Sa của Việt Nam và phiên âm dịch nghĩa
tên khoảng 124 đảo đá bãi ngầm của quần đảo Paracels và
Spratley trong các hải đồ hàng hải phương Tây. Lúc này chỉ mới có
tên gọi Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa và Đoàn Sa, chưa có tên Trung Sa. Đến
tháng 12 năm 1947, mới xuất hiện tên gọi Trung Sa thay thế Nam Sa và
Nam Sa thay thế Đoàn Sa . Ngay cả tên gọi mà cũng bất nhất, cứ
thay đổi vị trí từ gần bờ biển với Vạn Lý Thạch Đường rồi Nam
Sa tiến dần từ đảo Macclesfield xuống tới Spratly ở phía
Sau những cuộc khảo sát Hoàng Sa của Viện
Hải Dương Học Nha Trang từ năm 1925,
đến năm 1937, kỹ sư Trưởng công chính Gauthier, nhân danh chính quyền thuộc
địa Pháp, bảo hộ Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khả
năng xây dựng một hải đăng trên đảo Hoàng Sa. Để triển khai các
kết quả nghiên cứu của Gauthier, từ năm 1938 Pháp bắt đầu phái các
đơn vị bảo an tới các đảo.
Ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 ( 30
Mars 1938), Hoàng đế Bảo Đại của nhà Nguyễn đã ký
dụ số 10 có nội dung chủ yếu như sau :(xem phụ lục 3.19)
“Chiếu theo các
cù lao Hoàng Sa ( Archipels des Iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước
Nam đã từ lâu và dưới các tiên triều , các cù lao ấy thuộc
về địa hạt tỉnh
Đến nay nhờ
sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay
đổi , vả lại viên đại diện chính phủ Nam Triều cũng phái ra
kinh lý các cù lao ấy cùng qua các đại diện chính phủ bảo hộ có
tâu rằng nên tháp các "cù lao" Hoàng Sa vào địa hạt
tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn”.
“Dụ” Độc
khoản : “Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipels des iles
Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính,
các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan hiến tỉnh ấy”.[4 ]
Triển khai dự án nghiên cứu của Gauthier, năm
1938 một bia chủ quyền được dựng trên đảo Pattle (Hoàng Sa ) với dòng
chữ :
“ République Française - Royaume d’An Nam - Archipels des Paracels -
1816 - Ile de Pattle 1938”
Cũng năm này, một hải đăng, một
trạm khí tượng (OMM đăng ký số 48860) được đặt ở đảo Hoàng Sa (Pattle) (phụ lục 21), số 48859 ở đảo
Phú Lâm (Ile Boisée), một trạm vô tuyến TSF trên đảo Hoàng Sa (Pattle). Cùng một bia chủ quyền, một
hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm vô tuyến cũng được
đặt trên đảo Ba Bình (Itu –
Aba). Tháng 6 năm1938, một đơn vị bảo an lính Việt Nam tới Hoàng
Sa .
Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn Quyền Đông
Dương Jules Brévié đã ra nghị định số 3282, sửa đổi
nghị định trước và thành lập hai sở địa lý trên
quần đảo Hoàng Sa . (Xem phụ lục số 22, nguyên văn nội dung
nghị định số 3282 đăng trong Bulletin Administratif de l’Annam
năm 1939, số 9, tr 872).
Nghị định này để sửa đổi
nghị định số 156 - SC ký ngày 15 tháng 6 năm 1932 (ấn
định việc thiết lập một đơn vị hành chính tại quần đảo
Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên (
Trung Kỳ) mang danh là quận Hoàng Sa) trở thành hai đơn vị hành
chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên với danh xưng là sở
đại lý (délégation administrative) “Croissant” cùng phụ cận và sở đại
lý Amphytrite cùng phụ cận. Ranh giới giữa hai sở
này được phân bởi kinh tuyến 112, trừ rặng đá ngầm Vuladdore hoàn
toàn phụ thuộc vào sở đại lý Croissant. Những phái viên hành
chánh đứng đầu hai sở đại lý này
với tư cách là ủy viên của công
sứ Pháp tại Thừa Thiên ở tại đảo Pattle và đảo Boisée . Mỗi
phái viên được hưởng phụ cấp là 400đ,00 dự liệu ở nghị
định ngày 28 tháng 12 năm 1934. Phụ cấp này sẽ được ngân
sách địa phương Trung Kỳ đài thọ, theo chương 12, điều 6, đoạn 3.
Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bộ ngoại giao
Nhật Bản ra tuyên bố Nhật kiểm soát quần đảo Trường Sa. Tuyên bố
chuyển tới đại sứ Pháp tại Nhật bằng một thông điệp khẳng
định rằng Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo Trường
Sa vào năm 1917. Nhật Bản nhận rằng ở đó "không có một quyền
lực hành chánh địa phương nào, đó là một tình trạng có
hại cho các lợi ích của Nhật và về lâu dài có thể gây ra
những khó khăn với Pháp",.
Ngày 4 tháng 4 năm 1939, Bộ Ngoại Giao
Pháp gửi một công hàm phản kháng
quyết định của Nhật và
khẳng định các quyền của Pháp. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc
tranh luận ngày 5 tháng 4 năm1939
tại Hạ Nghị Viện, đại diện Bộ Ngoại Giao Anh đã khẳng
định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp.
Do nhu cầu lập đầu cầu xâm chiếm Đông
Nam Á, Nhật đã nhanh chóng chiếm vào năm 1938 đảo Phú Lâm (Ile
Boisée) và đảo Itu - Aba (Ba Bình) của Trường Sa vào năm 1939. Mãi đến ngày Nhật
đảo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật mới bắt
làm tù binh các đơn vị lính Pháp đóng ở các đảo Hoàng Sa.
Suốt thời kỳ Pháp thuộc, các nhà chức
trách Pháp tuyên bố chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của vương quốc An
Nam ở quần đảo Hoàng Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ [ 155 ],
song các nhà chức trách Pháp vì quyền lợi riêng tư của nước
Pháp có những thái độ bất nhất, khi thì thờ ơ, không
phản ứng kịp thời khi chủ quyền này bị nước ngoài (Trung
quốc) xâm phạm, thậm chí còn lấy Hoàng Sa làm vật trao đổi trong quan
hệ với Trung Quốc như Pasquier thú
nhận trong bức thư ngày 20 – 03 - 1930 gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc
Địa [155, 161] hoặc có ý đồ
tách các đảo Phía Nam Biển Đông không còn nằm trong khối thống nhất
của Hoàng Sa (Paracel) và cho đó là quần đảo Spratly vô chủ để người
Pháp chiếm hữu cho riêng nước Pháp, song lại sáp nhập vào Nam
Kỳ, mà người Pháp gọi là sự sáp nhập về hành chánh mà thôi. [155,
271]
3.1.2 Thời kỳ từ
năm 1945 đến năm 1954.
Quân Nhật đã rút khỏi quần đảo
Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946 và một phân đội bộ
binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật
từ tháng 5 năm 1946, nhưng đơn
vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27
tháng 5 năm 1946, đô đốc D’Argenlieu, cao ủy Đông Dương cũng
đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo
Hoàng Sa (Pattle ) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp
và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh
lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp
xảy ra, thì ngày 26 tháng 10 năm1946, hạm đội đặc biệt của
Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại
diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ
của hải quân (tiền thân của quân thủy đánh bộ) xuất phát từ cảng
Ngô Tùng ngày 9 tháng 10. Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng
và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái
Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa
(mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn Sa chưa phải mang
tên Nam Sa (tác giả nhấn mạnh)
Trong phiên họp
ngày 11 tháng 10 năm 1946, Uûy Ban Liên Bộ về Đông Dương thuộc chính
phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của
Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng
việc xây dựng một đài khí tượng. Theo ý kiến của đại tướng Juin cho
rằng “lợi ích cao nhất” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý đồ của
một cường quốc nào muốn chiếm lại các đảo đó là những đảo
kiểm soát việc ra vào căn cứ tương lai Cam Ranh, con đường hàng hải
Cam Ranh - Quảng Châu - Thượng Hải (Thư số 199/DN/S. col ngày 7 tháng 10 năm 1946 của Đại tướng Juin, Tổng Tham
Mưu Trưởng quân đội Pháp tại Paris).
Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự
chiếm đóng bất hợp pháp trên của Trung Quốc và ngày 17 tháng 10 năm
1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu
cầu quân Trung Quốc rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút. Pháp gửi
một phân đội lính trong đó
có cả quân lính "Quốc gia Việt Nam" đến đóng một đồn ở đảo Pattle ( Hoàng Sa ). Chính
phủ Trung Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành
từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947 tại Paris. Tại đây,
chính phủ Trung Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ
trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày 1 tháng 12 năm
1947, Bộ Nội Vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Quốc
cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm
1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945,
không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với
Pháp song Pháp cho rằng theo hiệp
định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, về
ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi
quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền
Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Với hiệp định ngày 8 tháng 3 năm
1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp còn gọi là quốc
gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối đầu với chính
quyền Cách Mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, để
củng cố cơ sở hình thức pháp lý nào đó dù không có thực
chất đại diện thực sự cho Việt Nam, nhất là trên thực tế trong thời
kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông trong
đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 4 năm 1949, Đổng Lý Văn Phòng của
quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo
tại Sàigòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của
Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Hoa được thành lập ở lục
địa Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm
đầu đã rút lui ra Đài Loan. Tháng 4 năm 1950, đồn lính Trung Hoa
Dân Quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc
quần đảo Hoàng Sa đã rút
lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn
còn duy trì.
Vào tháng 4 năm 1950, quân lính Trung Hoa
Dân Quốc rút hết khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi duy nhất đóng quân là
đảo Phú Lâm từ năm 1947.
Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp
chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần
đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa
việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.
Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia
tham dự từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951, ký kết hoà
ước với Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1951, họp khoáng đại, ngoại trưởng
Gromyko đề nghị 13 khoản tu
chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ
quyền của Cộng Hoà Nhân Dân Trung
Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa
dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác
bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận.
Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm
ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng
tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ
của Việt Nam : "Et comme il faut franchement profiter de toutes
occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les ỵles Spratley et Paracels qui de tout temps ont
fait partie du Viet Nam » [ 27]
Không một
đại biểu nào
trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.
Kết thúc hội nghị là ký kết hoà
ước với Nhật ngày 8 tháng 9 năm 1951. Trong hoà ước này có điều 2,
đoạn 7 ghi rõ:
Nguyên văn là
"Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các
quần đảo Paracels và Spratly". [ 27 ]
Ngày 24 tháng 8
năm 1951, lần đầu tiên Tân Hoa Xã lên tiếng tranh cãi
về quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines và kiên
quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.
Khi ra thông báo
về bản dự thảo Hiệp Ước với Nhật ở San Francisco, ngày 15 tháng 8
năm 1951, Bộ Trưởng Ngoại Giao nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Chu
Aân Lai ra bản tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là “tính
lâu đời của các quyền của Trung Quốc đối với quần đảo, trong khi
Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không tham dự hội
nghị này.
Như thế, lợi dụng
tình hình rối ren Nhật đầu hàng đồng minh, quân Tưởng
Giới Thạch được giao phó giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra
Bắc theo Hiệp Định Postdam,
đã lại chiếm giữ đảo Phú Lâm (Ile Boisée) cuối năm 1946 thuộc quần đảo Hoàng Sa
và đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc quần đảo Trường Sa , vào đầu năm 1947. Đến năm 1950, khi quân Trung Hoa Dân Quốc
đã rút ra khỏi Hoàng Sa và Trường Sa và hoà ước San Francisco đã buộc
Nhật từ bỏ sự chiếm đóng hai quần đảo này, thì thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn
Hữu của chính phủ Bảo Đại
đã long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Không một đại biểu nào trong
hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.
Cũng lợi
dụng cục diện chiến tranh lạnh đang xảy ra, sự giành giật thế lực ở
một nơi trong đó có Biển Đông, phái đoàn Liên Xô đề xuất giao cho
Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, đã không được Hội Nghị chuẩn nhận, song cũng
là cái cớ để Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa lên tiếng. Dù sau năm
1950, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn quân nước ngoài
chiếm đóng ngoài lực lượng trú phòng Việt Nam của Chính quyền Bảo
Đại.
3.1.3 Thời kỳ Việt Nam chia cắt (1954
– 1975), phản kháng các nước ngoài
xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hiệp định Genève ký kết ngày 20
tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước
Việt Nam. Điều 1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được
ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời
này cũng được kéo dài ra trong hai phần bằng một đường thẳng từ bờ biển
ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp
định. Cũng theo điều
14 của bản Hiệp định, trong
khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm
nhiệm việc hành chánh trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa ở Biển Đông ở dưới vĩ
tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chánh của
phía chính quyền quản lý miền
Nam vĩ tuyến 17.
Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
được đặt dưới sự quản lý hành chánh của chính quyền Việt Nam Cộng
Hoà, lúc ấy hai quần đảo này chưa có sự chiếm đóng của bất cứ
quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp. Chính quyền ở Phía Nam vĩ
tuyến 17 phải chịu trách nhiệm quản lý hai quần đảo trên ở
ngoài khơi bờ biển Việt Nam dưới vĩ tuyến 17.
Tháng 4 năm 1956, khi quân viễn
chinh Pháp rút khỏi Miền Nam Việt Nam, Philippines nêu vấn đề chủ
quyền.
Trong thời gian trên cho đến năm 1956, quân
đội Quốc Gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam Cộng Hoà đã chiếm
đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle).
Ngày 1 tháng 6 năm 1956, Ngoại Trưởng Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà Vũ
Văn Mẫu ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt
Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày hôm sau, Pháp cũng nhắc lại cho
Philippines biết những quyền hạn mà Pháp đã có đối với
hai quần đảo trên từ năm 1933.
Ngày 22 tháng 8 năm 1956, lục hải quân Việt
Nam Cộng Hoà đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa và
dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần
đảo Hoàng Sa, ngày 22 tháng 8 năm 1956, lực lượng hải quân của chính
phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đổ bộ lên các hòn đảo chính của
nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ. Tháng 10 năm
1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba). Ngày 22
tháng 10 năm 1956, sắc lệnh số 143 – NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng
Hoà thay đổi địa giới các
tỉnh và tỉnh lỵ tại « Nam Việt » (Nam Bộ). Trong danh
sách các đơn vị hành chánh « Nam Việt » (Nam Bộ) đính kèm theo sắc lệnh có những
thay đổi tên mới, trong đó có tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nay
được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy được
gọi là Hoàng Sa cùng tên
với quần đảo phía Bắc là Paracels.
Ngày 13 tháng 7 năm 1961,
sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo
Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một
xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà
Vang.
Trong sắc lệnh trên, ghi
rằng: "Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt
thuộc tỉnh Quảng Nam (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao
gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã
Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải
dưới quyền một phái viên hành chính ( điều 2). Tháng 2 năm 1959,
nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần phía Tây
quần đảo Hoàng Sa , nhưng không thành công, bị hải quân Việt
Nam Cộng Hoà bắt và hoàn trả lại
Trung Quốc.
Ngày 13 tháng 7 năm 1971,
Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà, ông Trần Văn Lắm có mặt ở
Manila đã lên tiếng nhắc lời yêu sách của Việt Nam và các
danh nghĩa làm cơ sở cho những yêu sách đó trên quần đảo
Trường Sa.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ
Trưởng Bộ Nội Vụ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã sửa
đổi việc quản lý hành chính của Trường
Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy mà trước đây
vào năm 1956 , thời chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sắc
lệnh gọi quần đảo Spratly là quần đảo Hoàng Sa
Ngày 11 tháng 1 năm 1974,
Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố việc sáp nhập các đảo của
quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Hoà là sự
lấn chiếm lãnh thổ Trung
Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 12 tháng 1 năm 1974,
chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung
Quốc.
Ngày 15 tháng 1 năm1974,
Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa bắt đầu triển khai một lực lượng
hải quân mạnh mẽ trong đó
có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh cá và có phi cơ yểm
trợ.
Mặt khác, Bộ Tư Lệnh hải
quân Việt Nam Cộng Hoà đã điều động tuần dương hạm Lý Thường
Kiệt đến Hoàng Sa đểå tuần phòng và canh chừng.
Sau khi phát hiện sự có
mặt của quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tại vùng Hoàng Sa với
cờ dựng trên các đảo Quang Aûnh (Money), Hữu Nhật (Robert), lực
lượng quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tăng cường với khu trục hạm
Trần Khánh Dư,ï tuần dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm
Nhật Tảo.
Lực lượng tăng cường của Việt Nam Cộng
Hoà có các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của
quân đội Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Vài vụ xô xát đã xảy
ra, súng đã nổ trên đảo Quang Hoà (Duncan) và một đảo khác.
Tiếp ngày 16 tháng 1 năm
1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã ra tuyên cáo bác bỏ luận
cứ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng
rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận
chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên hai quần đảo này.
Hai bên bắt đầu phối trí
toàn bộ lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau chừng 200m.
Sau đó hai bên bỗng
tách rời nhau để chuẩn bị, cuộc hải chiến bắt đầu diễn
ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974.
Một chiến hạm Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Hoa bị bốc cháy trước hoả lực của hộ tống hạm
Nhật Tảo. Các chiến hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mang số 281, 182
dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên
đài chỉ huy và hầm máy chính, hạm trưởng Nguyễn Văn Thà hy sinh
. Sau hơn 1 giờ giao tranh, 2 chiến
hạm Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chìm, 2 chiếc khác bị bắn
cháy. Bên lực lượng Việt Nam Cộng Hoà ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo
bị chìm, còn có một số chiến hạm bị thương tổn,
trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một người
Mỹ tên Gerald Kosh, một nhân viên dân sự thuộc văn phòng tùy
viên quốc phòng toà đại sứ Mỹ ở Sàigòn, được biệt phái làm
liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà
cũng bị bắt (theo Nhật báo Chính Luận, số 2982,
ngày 31 tháng 1 năm 1974). Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31
tháng 1 năm 1974. Ngày 17 tháng 2 năm 1974, chính quyền Bắc Kinh trả
tự do cho 43 quân nhân và nhân viên của Việt Nam Cộng Hoà tại Tân
Giới ( Hồng Kông).
Văn Trọng, tác giả cuốn
"Hoàng Sa quần đảo Việt Nam"
xuất bản năm 1979 viết: “Quân Trung
Quốc đông như kiến ở các tàu nhỏ áp sát bờ, đổ bộ lên đảo. Binh
sĩ Sài gòn rút ra phía rừng bắn trả quyết liệt, lính Trung Quốc không
dám tiến vào giữa đảo, chỉ nằm ở các bãi cát. Đến khi
binh sĩ Sàigòn hết đạn, thì quân Trung Quốc chiếm được đảo. Chúng
ném chất nổ vào từng căn phòng trong các nhà ở phá hết mọi thứ
trong nhà. Tất cả 42 người Việt Nam gồm sĩ quan, binh lính và nhân viên trạm khí tượng của chính
quyền SàiGòn đều bị bắt, xếp thành hai hàng, để bọn xâm lược
hỏi cung" . [ 134 ]
Ngày 18 tháng 1 năm 1974,
Đại sứ Đài Loan tại Sàigòn cũng gửi một công hàm ngoại giao khẳng
định lại yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc.
Ngày 20 tháng 1 năm 1974,
quan sát viên của Việt Nam Cộng Hoà bên cạnh Liên Hợp Quốc yêu cầu
Hội Đồng Bảo An xem xét việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh
chiếm Hoàng Sa.
Trong dịp này, Chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam công bố lập
trường của mình cho rằng: "Vấn
đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng
đối với mỗi dân tộc. Trong vấn đề biên giới lãnh thổ,
các nước láng giềng thường có sự tranh chấp do lịch sử để
lại, có khi rất phức tạp, cần được nghiên cứu. Trước sự phức tạp
của vấn đề, các nước có liên quan cần xem xét vấn đề này theo tinh
thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị
và láng giềng tốt, và giải quyết bằng thương lượng".
Lầu Năm Góc được chính
quyền Sài Gòn yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc
xung đột. Trợ lý Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ, Arthur Hummel cho chính
quyền Sài Gòn biết Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.
Qua thông điệp ngoại giao
được gởi đến tất cả các nước ký Hiệp Định Paris (1973), chính
quyền Việt Nam Cộng Hoà nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam, yêu cầu Hội Đồng Bảo An họp một phiên họp đặc
biệt.
Ngày 1 tháng 2 năm 1974,
chính quyền Sàigòn quyết định
tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa, đưa lực
lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua đại sứ ở Manila, chính
quyền Sàigòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa.
Ngày 1 tháng 2 năm 1974, đoàn đại biểu của
Việt Nam Cộng Hoà ra tuyên bố tại hội nghị của Liên Hợp Quốc
về luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam
trên các quần đảo, tố cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa .
Ngày 30 tháng 3 năm1974,
đại biểu chính quyền Sàigòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội Đồng Kinh Tài
Viễn Đông họp tại Colombia.
Ngày 14 tháng 2 năm 1975,
Bộ Ngoại giao chính quyền Sàigòn công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và
Trường Sa.
Sau chiến thắng Buôn Mê
Thuột, thời cơ chiến lược giải phóng Miền Nam đã đến. Bộ chính trị quyết định giải
phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong mùa khô 1975 bao gồm các đảo và
các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc…
Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Bộ
Tư Lệnh Hải Quân chủ trương chuẩn bị chiến đấu giải phóng quần
đảo Trường Sa. Lực lượng tham gia giải phóng gồm có các tàu của
đoàn vận tải quân sự 125, đoàn 126 đặc công, tiểu đoàn 471, đặc
công quân khu 5 và tiểu đoàn 407 cùng lực lượng đặc công tỉnh Khánh
Hoà. Bộ Tư Lệnh Hải Quân chủ trương nhanh chóng đánh đảo Song Tử Tây
trước để làm bàn đạp và rút kinh nghiệm đánh tiếp các đảo Nam Yết,
Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa và các đảo còn lại của quần đảo.
Ngày 9 tháng 9 năm 1975,
đại biểu chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam tại hội
nghị khí tượng thế giới tiếp tục đăng ký đài khí tượng Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa.
3.1.4 Chính Quyền Việt Nam thống nhất tiếp
tục khẳng định chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Ngày 10 tháng 9 năm 1975,
Bắc Kinh gửi công hàm cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khẳng định
chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà
Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa).
Ngày 24 tháng 9 năm 1975, trong cuộc gặp đoàn đại
biểu Đảng và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Tổng Bí Thư Lê
Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu
Bình tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc về vấn đề Tây
Sa và Nam Sa.
Ngày 12 tháng 5 năm 1977,
chính phủ Việt Nam tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa
Việt Nam.
Tháng 9 năm 1977, khi thăm
Philippines và tháng 10 năm 1977 khi đi thăm Malaysia, thủ tướng Phạm
Văn Đồng đồng ý với tổng thống Ferdinand Marcos và thủ tướng Hussein
On rằng hai bên sẽ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng
thương lượng hoà bình.
Tháng 3 năm1978, Hội
nghị hành chính thế giới về thông tin vô tuyến điện thông qua
một nghị quyết cho phép Trung Quốc sử dụng một số tần số trên
vùng trời Hoàng Sa.
Ngày 30 tháng 12 năm 1978,
người phát ngôn Bộ ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam ra tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong tuyên bố ngày 29 tháng 2 năm 1978 của người
phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa,
khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải
quyết mọi tranh chấp hoặc bất bình bằng thương lượng hoà
bình.
Ngày 30 tháng 7 năm 1979,
Trung Quốc đã công bố tại
Bắc kinh tài liệu để chứng minh rằng Việt Nam đã “thừa nhận”
chủ quyền Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 7 tháng 8 năm 1979, Bộ
ngoại giao nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra tuyên bố
về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc
của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu củaViệt Nam liên
quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định lại
chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường
của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về 2 quần đảo
giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.
Ngày 28 tháng 9 năm 1979,
Bộ ngoại giao Việt Nam công bố một số tài liệu về chủ quyền Việt
Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 28 tháng 9 năm 1979,
Bộ ngoại giao Việt Nam bác bỏ việc Philippines tuyên bố sát nhập hầu
hết lãnh thổ Trường Sa vào lãnh thổ Philippines.
Ngày 30 tháng 1 năm 1980,
Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện về Tây Sa và Nam Sa. Ngày
5 tháng 2 năm 1980, Bộ ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ
đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm
1980.
Ngày 29 tháng 4 năm 1980,
Bộ ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Malaysia phản đối việc
Malaysia công bố bản đồ Malaysia lấn vào vùng biển và thềm lục
địa Việt Nam tại vùng Trường Sa.
Ngày 8 tháng 5 năm 1980,
nhân chuyến viếng thăm và hội đàm với Malaysia, Ngoại trưởng
Nguyễn Cơ Thạch đã khẳng định đảo An Bang là của
Việt Nam.
Tháng 6 năm 1980, tại Hội
nghị Khí Tượng Khu Vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt
Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa
của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt
Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm như
cũ.
Ngày 13 tháng 6 năm 1980,
Việt Nam yêu cầu OMM đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới
OMM.
Tháng 12 năm 1981, Tổng cục
Bưu Điện Việt Nam điện cho Chủ Tịch Ủy Ban đăng ký tần số tại
Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng
trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại Giao Việt Nam công bố
sách trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa , lãnh
thổ Việt Nam”.
Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin là một
hải cảng lớn được xây dựng tại Hoàng Sa.
Tháng 10, tại Hội Nghị Toàn Quyền của UIT,
đại biểu Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng
đã được phân chia năm 1978 tại Genève.
Ngày 12 tháng 11 năm 1982, chính phủ Việt Nam công
bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (hình 3.62).
Ngày 4 tháng 2 năm 1982, chính phủ Việt Nam thành
lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam -
Đà Nẵng.
Ngày 9 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam lập
huyện Trường Sa. Đến ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính phủ Việt Nam
quyết định huyện Trường Sa được nhập vào tỉnh Phú Khánh.
Tháng 1 năm 1983, Hội Nghị Hành Chính Thế
Giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị
của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa
tại hội nghị sắp tới.
Cũng tháng 01 năm 1983, Hội Nghị Hàng
Không Khu Vực Châu Á Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc
muốn mở rộng FIR Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nộivà FIR TP Hồ Chí Minh,
nhưng Hội Nghị quyết định duy trì nguyên trạng.
Từ ngày 4 đến 16 tháng 4 năm 1984, đoàn đại biểu
Quốc Hội Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu
tỉnh Phú Khánh thăm huyện Trường
Sa. Thứ trưởng Bộ Thủy Sản Việt Nam Vũ Văn Trác đi khảo sát
nghề cá tại huyện Trường Sa.
Ngày 25 tháng 4 năm 1984, Uûy Ban Địa Danh
Trung Quốc công bố tên mới cho các đảo, bãi, đá trong Biển
Đông trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam.
Ngày 6 tháng 5 năm 1984, người phát ngôn Bộ Ngoại
Giao Việt Nam phản đối việc đặt tên của Trung Quốc.
Tại Hội Nghị Tổ Chức Thông Tin Vũ
Trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam
đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi
Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung
Quốc.
Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối Malaysia chiếm
đóng đảo Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung
Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai
quần đảo Tây Sa, Nam Sa.
Vào đầu năm 1985, Đại Tướng Văn Tiến Dũng,
Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.
Sang năm 1986, ông Hồ Diệu Bang, Tổng Bí Thư Đảng
Cộng Sản Trung Quốc cùng Lưu Hoa Thanh, Trương Trọng Tiến đi thị
sát Hoàng Sa.
Tháng 5 năm 1987, đô đốc Giáp Văn Cường, Tư lệnh
hải quân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.
Từ 16 tháng 5 đến
6 tháng 6 năm 1987, hải quân Trung Quốc tập trận tại vùng biển
Trường Sa.
Tháng 10 năm 1987, hải quân Trung Quốc diễn
tập quân sự tại Tây Thái Bình Dương và Nam Biển Đông.
Ngày 10 tháng 11 năm 1987, hải quân Trung Quốc đổ
bộ lên đảo Louisa (113 0 – 6 0 8)
Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến,
có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa, đi từ đảo Hải Nam xuống phía
Nam, trong đó có bốn chiếc được phái đến khu vực quần đảo Trường Sa,
khiêu khích và cản trở hoạt động của hai tàu vận tải Việt Nam trong
khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên là
hai bãi san hô còn đang lập lờ mặt nước. Quân lính Trung Quốc
cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường
xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải của Việt Nam đang tiến
hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các
đảo do quân đội Việt Nam bảo vệ.
Trong đợt hoạt động trên, Trung Quốc đã
thành lập một bộ tư lệnh đặc biệt, sử
dụng lực lượng của hạm đội Nam Hải, được tăng
cường một bộ phận của hạm đội Đông Hải và họ thường xuyên dùng
trên 20 tàu các loại ở khu vực quần đảo Trường Sa.
Về sự kiện xảy ra ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung
Quốc nói rằng: “Trung Quốc buộc phải phản kích để tự vệ”. Theo cách
nói đó, cóù nghĩa là hải quân Việt Nam là kẻ tấn công (bằng hai
tàu vận tải!), còn hải quân Trung Quốc là kẻ phòng thủ tự vệ.
Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong
đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và
pháo cỡ 100mm, vô cớ tiến công bắn chìm ba tàu vận tải
Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Lan Đao, Cô
Lin, Gac Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.
Ngày 14 tháng 3 năm 1988, giữa Trung Quốc và
Việt Nam đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển Nam Trung Quốc.
Cuộc chiến đấu này mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút
nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi.
Tàu vận tải số 64 của hải quân Việt Nam chở đầy
binh lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ số 505 và
một tàu vận tải khác số 605 bị bắn trọng thương, kéo theo đám
cháy và cột khói đen ngòm. Tàu đổ bộ số 505 bị chìm
trên đường về, còn tàu đổ bộ số 605 thì bị mắc cạn.
Cuộc chiến đấu không cân sức trên giữa
các tầu vận tải của Việt Nam vời các tầu chiến của Trung Quốc, vẻn
vẹn chỉ diễn ra có 28 phút đã kết thúc với kết quả phía
Việt Nam có một tàu bị chìm tại chỗ, hai tàu
bị thương, chết và bị thương 20 người, mất tích 74 người.
Còn phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên
khác trên đảo bị thương , ngoài ra không bị tổn thất
gì, đây là một trận chiến đấu trên biển mà phía Trung Quốc cho
là « đánh gọn và đẹp mắt»
(sic!).
Sau các va chạm
trên, hải quân Trung Quốc tiếp tục ngăn cản các hoạt động tiếp tế
do tàu Việt Nam thực hiện.
Tính đến ngày 6 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc
đã chiếm đóng: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven,
Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi.
Ngày 3 tháng 1 năm 1989, Trung Quốc đặt bia chủ
quyền trên các bãi họ chiếm được trong năm 1988 : Đá
Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa,Đá Gạc Ma, Đá
Subi.
Năm 1988, Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công
hàm phản đối đến Bắc Kinh và đặc biệt là các công hàm ngày 16,17,
23 tháng 3 năm 1988 đề nghị
hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp
tục chiếm giữ các bãi đá đã chiếm được và khước
từ thương lượng.
Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ ngoại giao Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc
sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (nghị
quyết ngày 13 tháng 4 năm 1988 thành lập tỉnh Hải Nam).
Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố Sách Trắng "Các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa và luật pháp quốc tế".
Ngày 14 tháng 8 năm 1989, chính phủ Việt Nam quyết
định thành lập Cụm Kinh Tế Khoa Học Dịch Vụ trên vùng
bãi ngầm Tứ Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc
Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam có toạ độ 7 - 803B
, 109 - 112 020 Đ .
Ngày 2 tháng 10 năm1989, người phát ngôn Ngoại
giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung
Quốc ngày 28 tháng 4 năm 1989. Người phát ngôn bộ ngoại giao Trung
Quốc đã lên án Việt Nam xâm phạm trái phép một số đảo và
cù lao tại bãi Vạn An và Bãi Vạn Nhã thuộc “quần
đảo Nam Sa” .
Tháng 5 –1989, Trung Quốc xâm chiếm thêm một số
đảo nhỏ. Ngày 9 tháng 3 năm 1990, Trung Quốc kết thúc đợt khảo sát
khoa học ở quần đảo Trường Sa bắt đầu từ ba năm trước.
Ngày 18 tháng 3 năm 1990, nhiều tàu đánh cá từ
Quảng Châu đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16 tháng 4 năm 1990, Bộ
Ngoại Giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho đại sứ quán Trung Quốc tại
Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự , tàu khảo
sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong
vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.
Ngày 28 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam
gửi công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc
Trung Quốc đã cho quân lính
xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa.
Tháng 8 năm 1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề
nghị tiến hành khai thác chung khu vực quần đảo Trường Sa.
Ngày 1 tháng 12 năm 1990 trong cuộc đi thăm
Philippines, Thủ tướng Lý Bằng nói
: “Chúng ta có thể tìm ra một
giải pháp thích hợp đối với vấn đề Trường Sa với các bên hữu
quan vào lúc thích hợp, nếu không phải là vào lúc này, tôi nghĩ
chúng ta có thể gác lại vấn đề này và không để nó gây trở ngại
trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng
hữu quan”.
Ngày 1 tháng 2 năm 1991, Trung Quốc xây dựng nhiều
hải đăng trên các bãi đá ngầm mới chiếm được trong quần đảo
Trường Sa.
Ngày 25 tháng 5 năm 1991, Trung Quốc công bố kết
quả 8 năm khảo sát khoa học ở
Trường Sa kể từ năm 1984.
Ngày 4 tháng 7 năm 1991 tại KuaLa Lumpur tổ chức
một hội thảo không chính thức về giải quyết các tranh chấp trên
vùng Biển Đông, Trung Quốc có cử đoàn cán bộ tham gia, người phát
ngôn Bắc Kinh tuyên bố việc tham
gia như thế không phải là Trung Quốc đã thay đổi lập trường và
nói: “Trung Quốc chủ trương giải
quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, Trung Quốc sẵn sàng
cùng các nước liên quan thảo luận con đường và phương pháp cùng khai
thác” .
Từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1991, do sáng kiến
của Indonésia, một hội nghị quốc tế đã được tổ chức
tại Bombay giữa các quốc gia trong khu vực về vấn đề quần đảo
Trường Sa. Bản thông cáo cuối cùng khuyến khích đối thoại và đàm
phán.
Ngày 10 tháng 11 năm 1991, các nhà lãnh đạo
Việt Nam và Trung Quốc ký tại Bắc Kinh thông báo chung về bình
thường hoá quan hệ giữa hai nước.
Ngày 25 tháng 2 năm 1992, quốc hội Trung Quốc công
bố luật lãnh hải và vùng
tiếp giáp Trung Quốc, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý
và lãnh thổ Trung Quốc giữa bốn quần đảo Đông, Tây, Nam
, Trung Sa và đảo Điếu Ngư.
Năm 1994,
Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa
và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với công ty
Crestones ( Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc
gọi là hợp đồng Vạn An Bắc 21. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, ông R.C.
Thompson, chủ tịch công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ) ra
thông báo với báo chí, nói rằng họ đang tiến hành khảo sát
địa chấn và chuẩn bị thăm đảo để đánh giá tiềm năng
dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng "Vạn An Bắc 21". Thông
báo nói rằng: "Việc nghiên cứu
khoa học và kế hoạch khai thác thương mại trong tương lai là
những bước phát triển mới nhất của lịch sử nghiên cứu khoa
học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực vạn An Bắc của Trung
Quốc, bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trươc Công Nguyên vào
thời Hán Vũ Đế!
Mãi
đến 1988 bằng vũ lực, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mới chiếm
một số bãi đá của Trường Sa.