3.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA SỰ XÁC LẬP VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN VIỆT NAM
TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
3.2.1 Cơ sở pháp lý quốc tế về sự
thiết lập chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo.
Từ thế kỷ XV tới đầu thế kỷ XVI, theo quan
niệm pháp lý quốc tế của Phương Tây, chủ quyền lãnh thổ được
xác định theo các sắc lệnh của Giáo Hoàng. Sắc lệnh ngày 4
tháng 5 năm 1493 do Giáo Hoàng Alexandre VI ký xác định nguyên tắc phân chia
các vùng lãnh thổ mới phát hiện ngoài Châu Aâu giữa
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Theo sắc lệnh này, tất cả các vùng
lãnh thổ bao gồm “tất cả các
đảo và đất liền đã
tìm thấy và sẽ tìm thấy, đã phát hiện và
sẽ phát hiện ở phía Đông một
đường tưởng tượng chạy từ địa cực này sang địa cực khác
qua phía Tây đảo Cap Vert 100 hải lý” là
thuộc Bồ Đào Nha [ 82 , 44 ].
Còn các vùng lãnh thổ ở phía Tây đường đó là thuộc Tây Ban
Nha. Theo hiệp ước Tordesillas do Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha ký kết với nhau ngày 7 tháng 6 năm 1494 và
được Giáo hoàng Jules II xác nhận năm 1506 thì con đường tưởng
tượng được dịch về phía Tây 170 hải lý. [ 82 , 44 ]
Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX, các nước Hà Lan, Anh, Pháp cũng phát triển dần trở thành
cường quốc, bị đụng chạm quyền lợi, không chịu chấp hành
sắc lệnh nói trên. Từ thực tế này, các nước đã tìm ra
nguyên tắc mới về thiết lập chủ quyền trên những vùng
lãnh thổ mà họ phát hiện. Đó là thuyết "quyền ưu tiên chiếm
hữu" một vùng lãnh thổ thuộc về quốc gia nào
đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên. Đó chính là
thuyết "quyền phát hiện"
[ 82 , 44 ].
Theo thuyết này thì chỉ cần các nhà
hàng hải của một quốc gia cắm một lá cờ lên một hòn đảo, thậm chí
một thuyền trưởng của một nước nhìn thấy một vùng đất mới,
quốc gia đó có quyền ưu tiên chiếm hữu.
Trên thực tế, việc phát hiện như trên chưa
bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh
thổ vì rất khó xác định chính xác thế nào là phát hiện,
xác nhận việc phát hiện và xác định giá trị pháp lý
của việc phát hiện ra một vùng lãnh thổ. Vì thế việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh nghĩa,
nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu vết trên
vùng lãnh thổ mà họ phát hiện. Quốc gia nào có một bia hay một mốc chủ quyền hay một
dấu hiệu quốc gia có giá trị hợp lệ mới có chủ quyền
lãnh thổ. Thuyết quyền phát hiện đã được thay thế
bằng thuyết chiếm hữu về
danh nghĩa đã được các quốc gia áp dụng từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ
XIX.
Song thuyết chiếm hữu về danh nghĩa càng ngày càng bộc lộ những
nhược điểm, xảy ra tình trạng có những nước vô
tình hay cố ý lại “phát hiện” và đặt dấu hiệu như cắm cờ,
cột mốc, bia về chủ quyền lên những lãnh thổ mà các
quốc gia khác đã xác nhận. Do đó mà nảy sinh ra nhiều vụ tranh
chấp.
Các luật gia càng ngày càng thấy việc phát
hiện, kể cả việc phát hiện có để lại dấu vết chỉ đem lại cho quốc
gia phát hiện vùng lãnh thổ một danh nghĩa phôi thai, chưa hoàn
chỉnh, cốt để chỉ xí phần. Danh nghĩa này có thể bị mất đi nếu
như nó không được củng cố bằng những hành động thực tế
tích cực. Chủ quyền muốn được xác lập thì phải là thật sự, có hiệu quả, tức là
đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh
thổ đoù.
Sau hội nghị Berlin về châu Phi năm 1885
của 13 nước Châu Âïu và Hoa Kỳ và sau khoá họp của Viện Pháp Luật
Quốc Tế ở Lausanne ( Thụy
Siõ) năm 1888, nguyên tắc chiếm hữu thật sự trở thành quan điểm chiếm ưu thế trên
thế giới. Điều 3, điều 34 và 35
của Định Uớc Berlin ký ngày 26 tháng 6 năm 1885 xác định
nội dung của nguyên tắc chiếm
hữu thật sự và các điều kiện chủ yếu để có việc chiếm
hữu thật sự như sau :
-
“Phải
có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các nước ký định
ước trên".
-
"Phải
duy trì trên những vùng lãnh thổ mà nước ấy chiếm
hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các
quyền mà nước ấy đã giành, được tôn trọng…”
Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne
năm 1888 đã nhấn mạnh “mọi
sự chiếm hữu muốn tạo nên một danh nghĩa sở hưũ độc
quyền … thì phải là thật sự tức là thực tế, không phải là danh nghĩa”. [ 82 , 45
]
Chính tuyên bố trên của Viện Pháp Luật Quốc
Tế Lausanne đã khiến cho nguyên tắc chiếm hữu thật sự
của định ước
Nội dung chính của nguyên tắc chiếm hữu
thật sự là :
1.Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ
phải do nhà nước tiến hành. Tư nhân không có quyền thiết lập
chủ quyền lãnh thổ vì tư nhân không có tư cách pháp
nhân quốc tế, vì quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các
quốc gia.
2. Sự chiếm hữu phải được tiến hành
một cách hoà bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là
vô chủ (res nullius) hoặc là đã được quốc gia làm chủ chủ
động từ bỏ (derelicto). Dùng võ lực để chiếm một vùng lãnh thổ đã có
chủ là một hành động phi pháp.
3. Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực hiện
những hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với
các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó.
4. Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục
trên vùng lãnh thổ đó.
Ngày 10 tháng 9 năm 1919, công ước Saint
Germain đã được các cường quốc lúc bấy giờ ký tuyên bố
hủy bỏ định ước Berlin năm 1885 với lý do là trên thế giới
không còn lãnh thổ vô chủ nữa và như thế nguyên tắc
chiếm hữu thật sự không còn giá trị pháp lý nữa.
Song do tính hợp lý của nguyên tắc này, các luật gia trên thế giới
vẫn vận dụng nó khi phải giải quyết các vụ tranh chấp chủ
quyền trên các hải đảo. Như phán quyết của toà án trọng tài thường
trực quốc tế La Haye tháng 4 năm 1928 về vụ tranh chấp đảo Palmas
giữa Mỹ và Hà Lan, phán quyết của toà án quốc tế của Liên Hợp Quốc
tháng 11 năm 1953 về vụ tranh chấp các đảo Minquiers và Écrehous giữa Anh và Pháp.
Những thay đổi trong pháp luật quốc tế
nửa đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi phương pháp thủ đắc chủ
quyền lãnh thổ trên thế giới. Sau chiến tranh thế giới thứ 2,
Liên Hợp Quốc được thành lập tiếp theo Hội Quốc Liên. Từ các cuộc
chiến tranh xâm lược, Hiến Chương Liên Hợp Quốc đưa ra nguyên tắc (điều 2 khoản 14) có giá trị như
một nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tất cả các quốc gia.
Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trên
đã được phát triển và tăng cường trong Nghị Quyết 26 – 25
năm 1970: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng
của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với
“các quy định của Hiến Chương”. Lãnh thổ của một quốc gia
không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc
gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự
thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ
không được thừa nhận là hợp pháp”.
Nghị quyết trên cũng qui
định: “Các quốc gia có bổn phận không dùng đe dọa hay sử dụng
vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một
quốc gia khác hay như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế ,
kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan
đến các biên giới của các quốc gia.”
Năm 1982, Công ước về luật biển Liên Hợp
Quốc gọi là “øUnited Nations Convention on Law of Sea" ,viết tắt la
øUNCLOS Convention công bố ngày 10-2-1982 tại Montego Bay ở Jamaica
đã được 159 quốc gia ký nhận. Sau khi có đủ 60 quốc gia duyệt y
(ratification), kể từ ngày 16-11-1994 thoả ước UNCLOS hay LOS Convention trở thành luật
quốc tế đối với các quốc gia phê chuẩn và được mang ra, thi hành,
đã xác định về chủ quyền trên biển của mỗi quốc
gia …
Như thế trước khi bị các nước ngoài xâm
phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tức đầu
thế kỷ XX trở về thế kỷ XVII, theo pháp lý quốc tế theo kiểu Phương
Tây lúc bây giờ, sự xác lập chủ quyền Việt Nam một cách thật sự,
liên tục, hoà bình là cơ sở pháp lý quốc tế đương thời. Đến
khi chủ quyền của Việt Nam bị xâm phạm, vào thời đểm 1909,
pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện
Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888.
Sau đó Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Luật
Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý quốc tế mà các thành viên ký kết bao gồm các
nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là Trung Quốc, Philippines, Mã Lai, Brunei đều phải tôn
trọng.
3.2.2 Tính pháp lý quốc tế của sự xác lập chủ quyền của
Việt
Vào đầu thế kỷ XVII, từ đời Chúa
Nguyễn Phúc Lan hay chúa Nguyễn Phúc Tần đến đầu thế kỷ
XX, năm 1909, Việt Nam đã
chiếm hữu thật sự, hoà bình và thực thi liên tục theo
đúng nguyên tắc pháp lý quốc tế lúc bấy giờ.
·
Đối với quần đảo Hoàng Sa:
Một là với tính cách nhà nước, đội Hoàng Sa, một tổ chức
bán quân sự đã được giao nhiệm vụ, riêng một
mình kiểm soát và khai thác định kỳ, liên tục và hoà
bình hải sản quý cùng các
sản vật kể cả súng ống của các tàu đắm tại các đảo Hoàng Sa suốt
thời Đại Việt, trong thời các chúa Nguyễn và thời Tây Sơn,
tức từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1801 và sau đó là buổi đầu triều
Nguyễn từ 1802 – đến trước 1815. Từ năm 1816, đội Hoàng Sa phải
phối hợp với thủy quân. Hàng năm, đội Hoàng Sa hoạt động trong 6 tháng từ tháng 3 đến
tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến
tháng 9 dương lịch) để phù hợp với điều kiện thời tiết ở vùng
biển của quần đảo Hoàng Sa.
Hai là suốt thời nhà Nguyễn, bắt đầu từ 1816 , thủy quân được giao
trọng trách liên tục kiểm soát, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa.
Ba là về mặt quản lý hành chánh liên tục suốt
trong 4 thế kỷ từ thế kỷ XVII đến năm 1974 (khi Trung Quốc dùng
vũ lực cưỡng chiếm), Hoàng Sa được các chính quyền ở
Việt Nam để thể hiện quyền lực tối thiểu của mình, đặt
dưới sự quản lý hành chánh của Quảng Ngãi (khi là phủ hoặc là trấn hay tỉnh qua
từng thời kỳ lịch sử) hoặc của tỉnh Thừa Thiên (thời Pháp thuộc) hoặc của tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng (thời chia cắt Nam Bắc) rồi đến thành phố Đà Nẵng
(thời thống nhất đất nước). Việc xác định sự quản hạt này
hoặc đựợc ghi trong các sách địa lý của nhà nước biên soạn
như bộ Hoàng Việt Địa Dư Chí hoặc Đại
Nam Nhất Thống Chí dưới triều
Nguyễn, hoặc do chính hoàng đế hay triều đình (Bộ Công) như
thời vua Minh Mạng khẳng định, hoặc bằng các dụ, sắc lệnh,
quyết định của chính
quyền ở Việt Nam như dụ của Bảo
Đại, triều đình Huế, Toàn Quyền Đông Dương ở thời Pháp thuộc, hoặc tổng thống,
tổng trưởng trong thời kỳ Việt Nam
bị chia cắt, hoặc quyết định, nghị quyết của nhà
nước, quốc hội thời độc lập thống nhất. Điều này khác với Trung
Quốc, chỉ xác định sự quản lý hành chánh sau năm 1909 tức vào
năm 1921 và rồi vào năm 1947…
có nghĩa là sau Việt Nam hơn 3
thế kỷ. Còn tất cả chỉ là suy diễn không có bằng chứng cụ
thể rõ ràng.
Chính quyền ở Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử, ngay cả thời Pháp thuộc, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền
của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, nên
ngay cả khi bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép sau chiến
tranh thế giới thứ 2 hay năm 1974, quần đảo Hoàng Sa vẫn được
tỉnh Quảng Nam và từ năm 1997 đến nay là thành phố Đà Nẵng quản lý.
Bốn là trước thời kỳ bị xâm phạm, bất cứ dưới thời đại nào, nhà nước ở
Việt Nam cũng có những hành động tiếp tục khẳng
định và thực thi chủ quyền hàng năm như đo đạc thủy
trình, để vẽ bản đồ do đội Hoàng Sa cuối thời chúa
Nguyễn hay do thủy quân từ năm 1816 dưới triều Nguyễn (bộ Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Đại
Nam Thực Lục Chính Biên hoặc Đại Nam Hội Điển Sự Lệ của Nội
Các, hoặc Châu Bản triều Nguyễn đã ghi rất rõ,
đã được trình bày trong phần tài liệu). Sau này, từ đầu
thế kỷ XX cho đến năm 1974, Việt
Năm là trước thời kỳ bị xâm phạm,
dưới triều Nguyễn, nhất là từ năm 1836 trở thành lệ, hàng
năm đều luôn luôn tổ chức xây dựng bia chủ quyền từng hòn đảo.
Trong thời bị xâm phạm cũng thế, các chính quyền ở Việt
Sáu là trước thời kỳ bị xâm phạm, các
triều đại Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng của triều
Nguyễn đã cho dựng miếu thờ làm bằng nhà đá (đá san
hô), đào giếng mà năm 1909 các đoàn khảo sát đầu tiên của Trung
Quốc ở Hoàng Sa đã trông thấy và khẳng định không biết
có từ thời nào. Riêng tại đảo Phú Lâm, tài liệu Trung Quốc [ 48
] ghi có miếu ghi rõ
Hoàng Sa Tự của Việt
Bảy là trước thời kỳ bị xâm phạm, dưới
triều Nguyễn nhất là thời vua Minh Mạng đã cho trồng cây
tại các đảo để cho thuyền bè ở đàng xa nhận thấy, tránh bị
nạn, và các nhà nghiên cứu thực
vật như La Fontaine cũng thừa nhận các thực vật cây cối ở
Hoàng Sa phần lớn có nguồn gốc ở Miền Trung Việt Nam.
Tám là trước thời kỳ bị xâm phạm,
dưới triều Gia Long như tài liệu phương Tây của Gutzlaff viết trong The
Journal of The Geographical Society of London,
vol 19, 1849, trang 97, đã cho biết Việt Nam đã
thiết lập trại binh nhỏ và một điểm thu thuế. Đến thời kỳ bị
xâm phạm từ năm 1909, các chính quyền Việt
Chín là chính quyền ở Việt Nam đã cho
xây trạm khí tượng đầu tiên tại đảo Hoàng Sa (Pattle) vào năm 1938
hoạt động trong thời gian dài cho đến khi Trung Quốc chiếm đóng bằng
vũ lực năm 1974.
Muời là trước thời kỳ bị xâm phạm tức
năm 1909, chính các hoàng đế Việt Nam như vua Minh Mạng và triều
đình, cụ thể là Bộ Công
đã lên tiếng khẳng định Hoàng Sa là nơi hiểm yếu
trong vùng biển của Việt Nam, nằm trong cương vực của Quảng
Ngãi.
Mười một là trước khi bị xâm phạm, chưa có
một hải đảo nào được nhiều tài liệu chính thức của nhà nước, từ
chính sử địa lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn như Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Đại Nam
Thực Lục Chính Biên, hoặc địa dư như Hoàng Việt Dư Địa Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí, hoặc
sách hội điển, một loại pháp chế ghi những điển chương pháp
chế của triều đình như Khâm
Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ. Cũng chưa có một hải
đảo nào tại Việt Nam lại được những nhà sử học lớn của nước
Việt Nam đề cập đến như Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục (1776),
Phan Huy Chú (1821) trong Lịch
Triều Hiến Chương Loại Chí , Dư Địa Chí, hay Nguyễn
Thông trong Việt Sử Cương Giám Khảo
Lược. Đặc biệt việc xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa lại còn do sách của chính người Trung Hoa viết như Hải Ngoại Ký Sưï của Thích Đại Sán
viết năm 1696. Đó là chưa kể nhiều tác giả tây Phương như là Le
Poivre (1749), J Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlaff (1849)… cũng
đã khẳng định rõ ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền
Việt Nam!
Mười hai là bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ
Của Giám mục Taberd trong cuốn Tự Điển Việt – La Tinh, nhan đề Latino –
Anamiticum xuất bản năm 1838 đã ghi rõ : Paracel Seu Cát Vàng ở Biển Đông. Trong khi bản
đồ "An
·
Đối với quần đảo Trường Sa:
Điều cần nói rõ rằng hơn 2 thế kỷ từ thế kỷ XVII đến đầu
thế kỷ XX, Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm ở Biển Đông, nên gọi là Vạn
Lý Trường Sa (bãi cát dài vạn dặm) hay còn gọi là Đại
Trường Sa (bãi cát dài lớn) hay còn gọi là Cát (Kát)Vàng hay
Hoàng Sa (Hoàng có nghĩa là Vàng, Sa có nghĩa là Cát). Chính vì lẽ
đó mà chính quyền Ngô Đình Diệm vào năm 1956 gọi các hải đảo
được sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở Nam Việt
cũng là Hoàng Sa, cùng tên gọi với các hải đảo được
sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên ở Trung Việt. Vào nửa đầu thế kỷ XIX, bản
đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ tuy có ghi Hoàng Sa ở phía Bắc và Vạn
Lý Trường Sa ở phía Nam của Biển Đông, song hai quần đảo vẫn được
vẽ trong một dải kéo dài liên tục từ Bắc xuống Nam, chưa thật
sự có sự phân biệt rõ rệt như người Pháp sau này thể hiện ý
muốn cho thấy Vạn Lý Trường Sa (tức phần phía Nam) thuộc về Nam Kỳ thuộc xứ thuộc
địa, trong khi Hoàng Sa ở Trung Kỳ lại thuộc xứ bảo hộ.
Quan niệm trên cũng giống quan niệm của
các nhà hàng hải Phương Tây khi trong các bản đồ do họ vẽ
suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tên gọi là Parcel hay Pracel hay
Paracels đều chỉ một dải dài các hải đảo ở Biển Đông dọc theo bờ
biển Miền Trung của Đại Việt, từ vĩ độ 17o xuống vĩ độ 100
Ngoài ra Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê
Quí Đôn cũng đã xác định một cách rõ rằng
vị trí của “Đại Trường Sa gần
xứ Bắc Hải”. Mà Côn Lôn với Hà Tiên cũng thuộc phạm vi
hoạt động của đội Bắc Hải.
Như thế Đại Trường Sa hay Hoàng Sa vào cuối thế kỷ XVIII kéo dài đến ở phía
Về mặt pháp lý quốc tế vào đầu thế kỷ XX,
trước khi Trung Quốc xâm phạm chủ
quyền Việt
Một là nhà nước ở Việt Nam trong 3 thế kỷ
từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ
XIX đã tổ chức đội Bắc Hải đi tìm kiến hải vật ở
khu vực Bắc Hải tức khu vực quần đảo Trường Sa và cả Côn Đảo, Hà
Tiên cũng ở phía Nam của Đại Việt.
Phủ Biên Tạp Lục (1776) của Lê Quí Đôn và rồi Đại Nam Nhất Thống Chí (khởi soạn 1848, in năm
1910) của Quốc Sử Quán Triều
Nguyễn đều khẳng định “đội Bắc Hải, khiến đội Hoàng Sa kiêm
quản, ra Bắc Hải, các đảo Côn Lôn
tìm lấy hải vật".
Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quí Đôn còn cho biết thêm rằng sở dĩ nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa
kiêm quản đốc đội Bắc Hải này vì chẳng qua họ chỉ lấy được
những hải vật kể trên mà thôi tức là những hàng đồi
mồi, hải ba, đôn ngư (cá heo lớn như con heo), lục quí ngư, hải sản
(con đỉa biển), còn những
vàng bạc và các của cải quí báu khác thì ít khi họ tìm
kiếm được. Vậy là do đội Bắc Hải ít khi tìm kiếm được các sản
vật quí trong đó có vàng bạc hay súng ống nên các chúa Nguyễn đã để cho
cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Điều này cũng dễ hiểu, bởi
các sản vật quí trong đó có
vàng bạc hay súng ống mới là
mối quan tâm của các chúa Nguyễn,
mà những thứ sản vật ấy chỉ có được do các tàu đắm.
Bởi lẽ Đại Trường Sa ở phía
Đội Bắc Hải tuy không được chính quyền Chúa
Nguyễn coi quan trọng như đội Hoàng Sa, không cần định
suất hoặc lấy những người tình nguyện song đội Bắc Hải vẫn do nhà nước quản lý. Phủ
Biên Tạp Lục quyển 2 nói rất rõ “ai tình nguyện thì cấp giấy sai đi và chỉ thị
sai phái đội ấy (Bắc Hải) đi làm công tác và những người
được bổ sung vào đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng
các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò”ø. Đây là
bằng chứng về tính cách nhà nước một cách rõ ràng của
đội Bắc Hải .Đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, mà nhiệm vụ
của đội Hoàng Sa không những để khai thác tài nguyên mà còn
có nhiệm vụ kiểm soát các hải đảo vùng biển Việt Nam.
Thời gian đội Bắc Hải hoạt động cũng
bắt đầu từ lâu, trước khi Phủ Biên
Tạp Lục ra đời (1776), cũng như phải sau khi đất Bình
Thuận bắt đầu thuộc Đại Việt (1697) đến đầu Nhà Nguyễn.
Hai là Trường Sa chịu sự quản lý hành chánh
của Quảng Ngãi. Bởi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được coi
là một .Tỉnh Bình Thuận chỉ cung cấp suất đinh cho đội Bắc Hải
mà thôi. Mà chúng ta đã biết Hoàng Sa nằm trong cương vực, vùng
biển của Quảng Ngãi, do Quảng
Ngãi quản hạt.
Đến năm 1933, quần đảo Trường Sa mới được
tỉnh Bà Rịa (Nam Kỳ) quản lývề mặt hành chánh. Năm 1956, tỉnh
Bà Rịa được đổi tên là Phước Tuy (Nam Bộ). Năm 1982 lại do tỉnh
Phú Khánh (Trung bộ) quản lý và trở thành một huyện đảo.
Ba là những hoạt động liên tục ,
định kỳ của thủy quân từ đầu nhà Nguyễn, cụ thể bắt
đầu từ năm 1816 tại quần đảo Hoàng Sa mà như ta đã biết thời
kỳ này Hoàng Sa và Trường Sa là một. Đó là những việc đo đạc
thủy trình, vẽ bản đồ của thủy quân, việc cắm mốc chủ
quyền, dựng bia thành lệ hàng năm đến từng hòn đảo được ghi trong
sách Hội Điển triều Minh Mạng.
Bốn là năm 1933 khi chưa có nước nào, kể cả
Trung Quốc đặt vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, chính quyền
Pháp ở Việt Nam đã tổ chức chiếm hữu theo nghi thức
truyền thống Phương Tây. Như thế, nhân danh vương quốc An Nam theo hiệp
ước Pháp – Việt 1874 cũng như hiệp ước 1884, chính quyền thực
dân Pháp ở Việt Nam đã chính
thức chiếm hữu Trường Sa trong tình trạng không có nước
nào chiếm hữu.
Chính quyền thực dân Pháp đã làm đầy
đủ thủ tục chiếm hữu theo nghi thức truyền thống phương Tây với
một hạm đội đem đến mỗi đảo một văn bản chiếm hữu do
các thuyền trưởng ký được đóng kín trong một cái chai được gắn trong
một trụ xi măng xây trên mỗi đảo. Người ta kéo cờ và thổi
kèn trên từng hòn đảo Spratly, Caye d’Aboine, Itu – Aba, Loaito,
Thị Tứ cùng các tiểu đảo phụ thuộc. Sau đó Bộ Ngoại Giao Pháp
đã có một thông tri đăng công báo Pháp ngày 26 tháng 7 năm
1933 về sự chiếm hữu đảo Spratley ngày 13 tháng 4 năm1930 và các đảo Aboine, Itu – Aba, Loai Ta,
Thị Tứ và các đảo phụ cận từ
ngày 7 tháng 4 năm 1933
đến ngày 12 tháng 4 năm 1933.
Những hoạt động liên tục hàng năm của
đội Bắc Hải thời Chúa Nguyễn và đầu thời nhà Nguyễn,
cũng như những hoạt động của thủy quân trong suốt triều
Nguyễn đã chứng minh một cách hùng hồn quần đảo Trường
Sa không phải là đảo vô chủ . Song hành động của chính quyền thực
dân Pháp ở Việt Nam tổ chức chiếm
hữu theo nghi thức cổ truyền phương Tây chẳng qua là để
hợp thức hoá việc chiếm hữu đúng theo pháp lý quốc tế lúc
bấy giờ để tránh mọi sự tranh chấp của các nước khác, đồng thời
cũng thể hiện ý đồ chính trị của Pháp, sáp nhập Trường
Sa vào xứ Nam Kỳ thuộc địa, thay vì xứ Trung Kỳ bảo hộ.
Điều cần nói thêm là, khi chính quyền thực
dân Pháp tổ chức chiếm hữu
theo nghi thức truyền thống phương Tây vào năm 1930 đến 1933, thì
cũng chưa có một quốc gia thứ ba nào đặt vấn đề tranh chấp
chủ quyền trên quần đảo Trường Sa
(Spratley). Năm 1907, Trung Quốc chỉ mới bắt đầu tranh chấp với
Nhật ở quần đảo Pratas và đến
năm 1909, Trung Quốc mới khảo sát trái phép theo phương thức cổ truyền
Phương Tây chỉ với đảo Hoàng Sa
hay Paracels mà Trung Quốc cho là vô chủ (sic! ). Lúc này Trung Quốc
chưa có hành động nào đối với quần đảo gọi là Nam Sa hay Trường Sa
của Việt
Sự tổ chức chiếm đóng theo nghi thức Phương
Tây của chính quyền thực dân Pháp
ở Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa như thế, rồi Trường Sa
được sáp nhập vào đất thuộc địa Nam Kỳ chỉ có ý nghĩa là tái xác lập chủ
quyền vốn đã có từ lâu đời của Việt Nam mà Pháp chiếm làm
thuộc địa. Ngoài ra khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956,
Trường Sa được bàn giao cho chính quyền ở Nam Việt Nam quản lý
đã bảo đảm tính liên tục thực thi chủ quyền một cách hoà
bình của Việt Nam đối với Trường Sa.
Năm là ngoài sự sáp nhập Trường Sa về mặt
hành chánh của chính quyền thực dân Pháp vào cảng Bà Rịa,
Vũng Tàu, đất Nam Kỳ theo hiệp ước Pháp Việt 1862, 1874, chính
quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã có những hành động
cụ thể như xây dựng bia chủ quyền, xây dựng trạm khí tượng, trạm vô
tuyến ở đảo Itu – Aba cùng trại
binh ở quần đảo Trường Sa. Suốt thời gian từ 1927 đến 1945, chính
quyền thực dân Pháp ở Việt
Sáu là các chính quyền ở Việt
Cách Mạng Tháng Tám thành công năm 1945 chấm
dứt chế độ thuộc địa và kết thúc sự tồn tại của triều
đình Huế, khiến cơ sở pháp lý của các hiệp ước 1874 và 1884
không còn giá trị, song thực dân Pháp đã chiếm lại
Sàigòn từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, thành lập chính quyền Nam Kỳ tự
trị của người Việt thân Pháp
và sau đó thành lập chính
phủ Bảo Đại thân Pháp, ký kết với Bảo Đại hiệp ước năm 1947 và
tranh thủ sự công nhận của các nước Phương Tây để chống lại chính
phủ do Chủ Tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang tổ chức kháng
chiến chống Pháp. Các chính quyền thân Pháp ở Việt Nam hoặc thực
dân Pháp đã liên tục quản lý quần đảo Trường Sa với các hải
đảo đã chiếm hữu kể trên,
kế tục sự chiếm hữu trước đó thời chúa Nguyễn
và triều Nguyễn. Chúng ta cần lưu ý rằng chế độ cai trị
ở Nam Kỳ mà quần đảo Trường Sa được sáp nhập là chế độ thuộc
địa , trực trị khác với chế độ bảo hộ ở miền Trung.
Vì thế cung cách xử lý chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa
của Pháp cũng khác với Hoàng Sa, ngoài việc nhân danh vương
quốc An Nam theo hiệp định 1884, Pháp còn nhân danh chính quyền thực dân trực trị để chiếm hữu Trường Sa, nên
đã làm thủ tục nghi thức truyền thống phươngTây. Song dù
với danh nghĩa gì đi nữa thì việc sáp nhập
Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa, lãnh thổ của Việt Nam là một thực tế, đã có một giá
trị pháp lý quốc tế trong khi chưa có một nước thứ ba nào
chiếm hữu thực sự quần đảo Trường Sa.
Những
tình tiết trên đây là những bằng chứng rõ ràng
về sự chiếm hữu thật sự, liên tục và hoà bình của
Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, chỉ bị gián đoạn một thời
gian ngắn khi bị Nhật dùng vũ lực trái phép đem quân
chiếm đóng một thời gian (ngay khi Nhật đảo chính Pháp và tước khí
giới quân Pháp đồn trú ở Trường Sa ngày 9-3-1945). Cuối 1946 qua năm
1947, cũng trong một thời gian ngắn, lợi dụng thời gian tranh
tối tranh sáng, quân đội, Trung Hoa Dân Quốc lấy cớ giải giáp quân
đội Nhật đã đến chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu – Aba) vốn
bị Nhật chiếm vài năm trước đó. Song đến đầu năm 1950, quân Trung Quốc đã rút. Sau đó đến năm 1956, cũng lợi
dụng tình hình tranh tối tranh sáng giao quyền hành, Trung
Hoa Dân Quốc đã chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu – Aba) của
Trường Sa và Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã chiếm đảo Phú Lâm
của Hoàng Sa. Đó đều là những hành động trái phép đối với
luật pháp quốc tế. Nếu các nước ngoài bằng vũ lực xâm chiếm
tranh giành chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì sự xác lập
chủ quyền từ lâu đời của Việt
Bảy là từ sau tháng 4/1956, khi quân
Viễn Chinh Pháp rút, các chính quyền ở Nam Việt Nam quản lý
Trường Sa, luôn có những hành động bảo vệ chủ quyền ở quần
đảo Trường Sa. Đến năm 1975, khi giải phóng Miền Nam Việt Nam, quân
đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản, tiếp tục trấn giữ,
thực thi chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên quần
đảo Trường Sa. Mọi sự xâm chiếm bằng vũ lực của Trung Quốc
cũng như các nước khác trong các thời kỳ đã qua cũng
như hiện nay đều vi phạm pháp lý quốc tế.
3.3 PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỂM BIỆN MINH CHO SỰ XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN VIỆT NAM CỦA CÁC NƯỚC NGOÀI TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA.
3.3.1 Phản bác các luận điểm của Trung Quốc biện minh cho sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Kể từ năm 1909 đến nay, Trung Quốc đã
có nhiều thay đổi về luận điểm, luận cứ, luận chứng để biện minh
cho sự xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. So với hồi đầu, sự bất nhất về luận điểm, luận cứ, luận
chứng cũng như bất nhất về tên gọi khi thì Nam Sa khi chỉ
Macclesfield, khi chỉ Spratley, tự bản thân nó đã bộc lộ sự không
có thật trong lịch sử.
Những văn kiện ngoại giao của Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Hoa sau Cách Mạng thành công năm 1949 đến nay luôn
luôn đưa ra luận điệu: “ Chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa
(Hoàng Sa của Việt Nam) và quần
đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam)
là “bất khả tranh nghị”
. Mãi đến ngày 30 tháng 1 năm 1980, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa
lần đầu tiên đưa ra văn kiện có hệ thống đầy đủ của Bộ Ngoại Giao:
“Chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa là
không thể tranh cãi được”. Tiếp theo, một bộ tư liệu đồ sộ: Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên
của nhóm Hoàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân (dày 795 trang)
được bắt đầu biên soạn từ năm 1985, đến năm 1988 hoàn thành và được
nhà xuất bản Phương Đông (Bắc Kinh) xuất bản , minh hoạ cho nội dung
văn kiện Bộ Ngoại Giao nói trên.
Đọc kỹ và phân tích văn kiện ngoại
giao và bộ tư liệu kể trên, người ta thấy rất rõ những
thủ thuật cắt xén, hoặc suy diễn chủ quan, thiếu cơ sở khoa
học để minh chứng chủ quyền của Trung quốc hoặc với quan niệm “phi
lịch sử” để phản bác các tài liệu lịch sử của Việt Nam.
·
Trước hết với Tây Sa
(Hoàng Sa của Việt
Luận điểm đầu tiên của chính quyền tỉnh Quảng
Đông khi công khai khảo sát Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa vào
năm 1909, là cho rằng quần đảo
"Tây Sa" là đất vô chủ ( res nullius). Bản thân hành động của hải quân tỉnh Quảng Đông cắm cờ trên
đảo và bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hoàng Sa năm
1909, đã nói lên chủ ý hành động của Trung Quốc lúc
này cho