Hoàng Sa là đất vô chủ.
Sau đó để phản bác những bằng chứng mà chính quyền
thuộc địa Pháp ở Việt
1.
“Chính phủ đời Thanh năm 1909
đã cử tới đây một đơn vị hải quân để nghiên cứu các
điều kiện của các đảo và thực hiện hành vi chiếm hữu thật
sự đối với các quốc gia khác trên thế giới, cờ Trung quốc đã
được kéo lên và được chào mừng bởi các loạt sứng đại bác trên đảo
Vĩnh Hưng (Phú Lâm). Chính phủ Pháp cùng vào thời kỳ đó đã
không phản ứng gì”
2.
“Trăm
năm trước đây Đông Dương vẫn dưới sự bảo trợ của Trung Quốc,
nên các đảo Paracels đã là lãnh thổ của Trung Quốc,
Đông Dương không có quyền gì thực hiện những hành động
chiếm đóng đất đai của tôn chủ họ”
3.
Theo
“Điều 3 Công Ước Trung Quốc ký kết với Pháp ngày 26-6-1887
hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ, Paracels
ở về phía Đông kinh độ qui định 108o2 Đ đương nhiên
thuộc về Trung Quốc” [ 48 ]
Việc chính phủ Pháp vào thời kỳ ấy chưa phản
ứng ngay hành động xâm phạm của chính quyền địa phương Quảng
Đông, theo luật pháp quốc tế thời ấy không vì thế mà Việt
Công ước Trung – Pháp năm 1887 chỉ quy
định biên giới ở “ Vịnh Bắc Kỳ” mà Hoàng Sa ở ngoài
vịnh Bắc Kỳ, từ vĩ tuyến 17 trở xuống nên dẫn Công Ước
1887 là không đúng.
Đến cuối thập niên 40 thế kỷ XX, sau chiến
tranh thế giới thứ hai, Bản Trích Lục Báo Cáo Những Vấn Đề
Nghiên Cứu Quần Đảo Tây Sa do Ủy Ban Thu Thập Biên Soạn Về Tây Sa,
Nam Sa của chính phủ Quảng Đông vào năm 1947 [ 48 ] đề xuất những luận điểm
dưới đây:
-
Một
là Tổng đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn vào năm Quang Tự thứ 33,
đã phái người ra điều tra Đông Sa rồi cả Tây sa. Năm Tuyên
Thống thứ nhất, phó thủy sư đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 2 quân hạm Phục
Ba, Thấm Hàng, xuất phát từ cảng
Du Lâm đã qua 14 đảo Tây sa,
đảo nào cũng đặt tên, khắc đá, cắm cờ, bắn pháo, công bố
trong ngoài đã tốn phí hơn 40 vạn lạng quốc tệ, có 1 quyển
sách ghi chép về tuần biển, đồng thời có đo đạc, vẽ bản đồ
còn cất giữ. Nếu quần đảo này
thuộc về nước Pháp, tại sao bấy giờ chưa nghe thấy có sự phản đối.
-
Hai
là năm Tuyên Thống thứ 1, tổng đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn kiến
nghị mở mang quần đảo Tây sa, sai người điều tra, lấy phân chim
và phân bón san hô do đảo sản xuất và quặng lân Đông Sa đem trưng
bày ở Nam Dương, Nam Kinh.
-
Ba
là đầu thời Dân Quốc, thương nhân kinh doanh phân chim quần đảo Tây
Sa, qua sự phê chuẩn của nhà đương cục Quảng Đông trước sau 5 lần…
-
Bốn
là trường Đại Học Trung Sơn cùng cơ quan Thiên Hậu khu Nam Quảng Đông
ra điều tra về mỏ lân ở Tây Sa.
-
Năm
là Tư lệnh hải quân Pháp ở Sàigòn đã trả lời cho Công ty
thực phẩm Nam Hương của Nhật Bản ngày 20 tháng 9 năm 1920 yêu cầu cho
biết Tây Sa có phải lãnh địa của nước Pháp không? Viên
sĩ quan này đã trả lời rằng “Hồ sơ lưu trữ của hải quân
Pháp tuyệt không có tài liệu liên quan đến quần đảo Tây Sa”.
Đến năm Dân Quốc thứ 27, Pháp thông
báo cho Anh biết việc chiếm Tây Sa, lấy lý do cũng chỉ vì
Nhật chiếm đảo Hải
-
Sáu
là căn cứ vào kiến nghị của đài trưởng đài quan sát khí tượng
An Nam.
-
Bảy
là người Trung Quốc thời Tống, Nguyên đã phát hiện Thiên Lý
Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, căn cứ vào sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Thích (Quát) đời Nam Tống có chép rằng
“Năm Trinh Nguyên thứ 5, lấy Quỳnh Châu làm đốc phủ. Đến Cát Dương
là nơi cùng cực của biển quên về theo đường bộ, bên ngoài có chăng
gọi là Ô Lý, là Tô Cát Lãng, phía đối diện với Chiêm
Thành, Tây nhìn sang Chân Lạp, Đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn
Lý Thạch Đường xa rộng, mờ mịt, không bờ bến, trời nước một
mầu”.
“Thuyền bè qua lại chỉ lấy kim chỉ
nam làm chuẩn, ngày đêm coi giữ cẩn thận, mảy may sai lại quan
hệ đến sống chết”.
Sau đó, Trung Quốc còn viện dẫn lời Uông Đại Uyên đời Nguyên trong sách “Đảo Di Chí Lược” (phụ lục 3.24 )viết: “Trên sợ Thất Châu, dưới sợ Côn Lôn” (Thượng phạ Thất
Châu, Hạ phạ Côn Lôn) và việc Trịnh Hoà bảy lần xuống Tây
Dương, thế tất phải qua quần
đảo Tây Sa cũng như việc ông Phí Tín, Mã Hoan viết lộ
trình từ Phúc Kiến đi về hướng Tây Nam đến Chiêm Thành xuôi
gió 10 ngày, thì hẳn phải qua Tây Sa. Trung Quốc còn viện
dẫn phát hiện đồng tiền Vĩnh Lạc Thông Bảo ở Tây Sa năm Trung
Hoa Dân Quốc thứ 9.
Cũng từ đó các viên chức ngoại giao
Trung Quốc luôn khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa là không thể tranh
cãi được.
Hầu hết các luận điểm trên đến nay không
còn giá trị và chính Trung Quốc không còn nhắc tới nữa, bởi
những bằng chứng về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt
Nam không thể chối cãi là những phản bác hùng hồn tất
cả những luận điểm trên của Trung Quốc. Trung Quốc có kể hàng
trăm hành động từ năm 1909 thì cũng vô ích vì đó
chỉ là những hành động vi phạm chủ quyền của Việt
Còn việc hỏi Tư Lệnh Hải quân Pháp ở Sài
gòn thì đúng là đã không hỏi đúng địa chỉ, nếu
hỏi viên Khâm Sứ Pháp ở Trung Kỳ như Khâm Sứ LeFol hay hỏi Nam Triều
về chủ quyền Hoàng Sa thì chắc chắn sẽ có câu trả lời
rõ ràng, xác thực như lời khẳng định “chủ quyền của
Việt Nam không có gì để tranh cãi ở Hoàng Sa” của thượng
thư Thân Trọng Huề vào năm 1925.
Đến khi Cách Mạng Trung Quốc thành công năm
1949, tài liệu đầu tiên của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đưa ra
những luận điểm về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bài báo nhan đề “Notes on the Namwei and
Sisha Islands” (không ký tên) đăng
trong bán nguyệt san “People’s China” (Nhân Dân Trung Quốc) do nhà xuất
bản Ngoại Văn (Foreign Language Press) xuất bản tại Bắc Kinh ngày
1-9-1951.
Như thế,so với trước năm 1949, Trung Quốc
đã bắt đầu quan tâm hơn đến luận điểm cho rằng chủ quyền về Hoàng Sa của
Trung Quốc đã có từ lâu đời, với nhiều luận cứ, luận chứng, còn
công việc “chiếm hữu theo cung cách Phương Tây” như cắm cờ, bắn
21 phát súng đại bác vào năm 1909 chỉ là thứ yếu. Như thế Trung Quốc
cơ bản đã thay đổi luận điểm, thay vì cho rằng vào thời
điểm năm 1909, quần đảo Tây Sa là vô chủ và Trung Quốc đã có
“hành động chiếm hữu”, nay lại cho rằng quần đảo Tây Sa
đã thuộc về Trung Quốc từ lâu đời.
Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp
pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa
vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng
tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần
thì xuyên tạc với sự đóng
góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là
lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm
nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại
Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài
liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng
(Quang Minh nhật báo, 24 tháng 11 năm 1975).
Sau đó như đã nói trên, ngày 30 tháng 1
năm 1980, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã công bố văn kiện ngoại giao,
chính thức hoá những luận điểm đã đưa ra trong bài báo
nói trên và năm 1988, đã xuất bản bộ tư liệu đồ sộ của Nhóm
Hàn Chấn Hoa như đã nêu trên đây.
Nói gì thì nói, cho dù Trung
Quốc tìm kiếm được bằng
chứng phát hiện thật sớm hơn
đời Hán, chứ không phải chỉ
đời Tống như hồi ban đầu, thì người Hán cũng chỉ
vượt qua sông Dương Tử xuống đất Bách Việt, rồi tới Hải Nam và Biển
Đông rất chậm sau những cư dân bản địa, Bách Việt trong
đó có Lạc Việt hay người Lê ở Hải Nam cũng có ở Thanh Hoá
Việt Nam và cũng phải đến sau những cư dân dọc miền
Trung Việt Nam trong đó có người Chăm, một thành phần của cộng đồng dân
tộc Việt Nam hiện nay. Người Chăm lại là những người rất giỏi
đi biển. Các vua Chămpa đã nhiều lần đi biển và có vua
đã bị chết trên Biển Đông. Đó là chưa kể hầu hết
những tài liệu Trung Quốc
dẫn chứng đều là sách viết về nước ngoài “chư phiên”, tức không phải chép việc
của Trung Quốc như “Nam Châu Dị
Vật Chí” (phụ lục 3.25) của Dương Phù, “Chư Phiên chí” (phụ lục 3.26 ) của Triệu Nhữ Quát .
Vả lại với cơ sở pháp lý quốc tế từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc chiếm hữu
thật sự, hoà bình cùng sự thực thi liên tục mới có giá trị, nên điều
đáng quan tâm trong các luận điểm
mới của Trung Quốc là những bằng chứng giả tạo về sự quản
hạt sớm nhất của Trung Quốc được ghi trong các tài liệu nghiên
cứu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng như trong tản mát các tài liệu
khác cũng như trong văn kiện ngoại giao sách trắng năm 1980 của
Trung Quốc.
Trung Quốc đã cố gắng tìm ra
địa danh có trong lịch sử
Trung Quốc để cố gán ghép cho
quần đảo Tây Sa như Cửu Nhũ Loa Châu, vốn là một hòn đảo ven biển Trung Quốc. Vả
lại ngay như tài liệu Trung Quốc
viện dẫn, chính Cửu Nhũ Loa Châu lại ở phía Đông của
Nhai Châu của đảo Hải Nam như tấm bản đồ Quảng Đông Dương Đồ
trong sách Dương Phòng Tập Yếu
hoặc Thất Châu Dương chép trong một số sách như Tuyền Châu Phủ Chí (đời Thanh) hoặc trong sách Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu, vốn chỉ
cách huyện Văn Xương của Hải Nam
về phía Đông 100 dặm. Trong khi đó, phía Đông của đảo Hải
Để minh chứng cho sự xác lập chủ quyền của
mình ở Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc lại
cũng đưa ra những luận điểm được coi là vững mạnh
“nhất” như sau:
·
Một
là Trung Quốc khẳng định các đảo Nam Hải đã thuộc phạm
vi quản hạt của Trung Quốc từ năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời
Đường năm 789.
Đúng sử sách Trung Quốc như sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ
Quát có chép những thay đổi về qui chế hành chính từ đời Hán
đến đời Tống, trong đó có việc Quỳnh Sơn, một quận của đảo Hải Nam thời đó ( xin nhấn mạnh)
(nay thuộc thành phố Hải Khẩu) được đặt thành “phủ đô đốc” vào năm
thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường tức năm 789.
Nhưng qua các sáchĐường Thư, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Dư Địa Kỷ
Thăng (1221), Quảng Đông Thông Chí (1842) thì vào năm thứ 5
niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường
tại đảo Hải nam, chỉ thấy có chuyện kể viên đô đốc nhà Đường là
Lý Phục mang quân sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản
địa nổi dậy làm chủ đảo và xin vua Đường đặt phủ đô đốc ở
quận Quỳnh Sơn, không hề có chuyện “sáp nhập bất kỳ đảo ở biển Nam
Trung Hoa vào đảo Hải Nam”. [ 58 ]
·
Hai
là việc Trung Quốc phái thủy quân đi “tuần tiễu”, Trung Quốc
đã viện dẫn các sự kiện để chứng minh.
Đó là việc triều đình Bắc
Tống “đặt định thủy quân tuần tiễu” ở Quảng Châu, chép
trong Vũ Kinh Tổng Yếu của
Tăng Công Lượng đời Tống (960-1279, việc viên tướng nhà Nguyên đi qua
“Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường” trên đường đi đánh Java năm
1293 , chép trong Nguyên Sưû, hay
việc chính quyền Quảng Đông phái binh thuyền ra biển phòng ngự, chép
trong Quảng Đông Thông Chí của Vương
Tá, đời Minh (1368-1644); việc viên phó tướng Quảng Đông Ngô Thăng đi
tuần từ Quỳnh Nhai đến Tứ Canh Sa khoảng năm 1700-1712, chép trong
Tuyền Châu Phủ Chí của Hoàng Nhiệm, đời Thanh (1616-1911).
Trước hết về luận cứ "phái thủy quân
tuần tiễu cương giới biển", luận chứng của
Nhóm Hàn Chấn Hoa chỉ dựa vào một đoạn trong
sách Vũ Kinh Tổng Yếu, với
nội dung như sau:
"Quận Nam Hải thuộc
Quảng Châu là đất Bách Việt xưa đều là nơi người Man, người Đản cư
trú. Từ đời Hán về sau đặt thành quận huyện. Đời Đường đặt làm
Thanh Hải quân tiết độ. Bản Triều dẹp Lưu Xương, lại đặt phương trấn,
làm một nơi đô hội, nắm binh giáp,
giặc giã mười sáu châu, người Phiên, người Hán ở lẫn
lộn.
Sai quân nhà vua ra trấn
giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển
Đông và Tây, rộng 280 trượng cách đồn Môn Sơn 200 dặm. Đóng tàu
chiến kiểu đao ngư. Nơi đó (nơi đặt dinh lũy thủy quân) phía
Đông Nam đến biển cả 40 dặm, phía Đông đến Huệ Châu 420 dặm, phía
Tây đến Đoan Châu 240 dặm, phía Nam đến An Châu 750 dặm, phía Bắc đến
Thiều Châu 250 dặm. Đường biển về phía Đông
Từ Đồn Môn Sơn dùng
gió Đông đi về phía Tây
Những đoạn văn này hoàn toàn không
chứng minh được lập luận "Trung
Quốc phái thủy quân tuần tiễu quần đảo Tây Sa bắt đầu đời Tống”.
Trước hết nhóm Hàn Chấn Hoa đã cố gán
ghép hai đoạn văn vào với nhau gồm đoạn văn nói về lộ trình "Từ đồn Môn Sơn đến các nước Đại
Thực, Phật Sư Tử, Thiên Trúc” tiếp liền
vào đoạn văn đầu viết về "đặt
dinh lũy thủy quân tuần tiễu ở hai cửa biển Đông và
Tây" . Điều này không đúng với nguyên bản Vũ
Kinh Tổng Yếu [ 58 ]. Đây chỉ là sự cố gán ghép "đầu
Ngô mình Sở" để cố minh chứng việc tuần tiễu thủy
quân đời Tống qua đất "Cửu Nhũ Loa Châu" mà nhóm này
cho là Tây Sa. Song ngay địa danh Cửu Nhũ Loa Châu
cũng không có bằng chứng nào chắc chắn là Tây Sa, trong khi
có nhiều bằng chứng như đã trình bày chỉ là nhóm hòn
đảo ven bờ biển Trung Quốc. Vả
lại, không chỉ có Cửu Nhũ Loa Châu mà còn có những
nơi khác cũng được đề cập trong
lộ trình đến các nước Đại Thực, Thiên Trúc… chẳng lẽ
lại cũng thuộc về lãnh thổ Trung Quốc hay sao? Đây là
điều thật phi lý.
Về sự kiện tướng nhà Nguyên đi đánh Java năm
1293 thì khỏi phải bàn vì đây rõ ràng là cuộc xâm
lược! Vả lại cũng thật hồ đồ, sao có thể chắc chắn đoàn
quân xâm lược ấy lại phải đi qua Tây Sa, Nam Sa! Biển Đông vốn rộng
mênh mông!
Về việc chính quyền Quảng Đông đốc phái binh
thuyền ra biển phòng ngự, nhóm Hàn Chấn Hoa dẫn sách Quảng
Đông Thông Chí của Hoàng Tá đời Minh có đoạn viết rằng :"Đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự
… Từ cửa Nam Đình,(thuộc huyện Đông Hoàn) ra khơi đến ba biển Ô Chư, Độc Chư, Thất Châu lấy
kim la bàn (hướng) Khôn Mùi đến Ngoại La” . Để từ đó nói rằng
từ đời Minh, Thanh trở đi, vùng biển quần đảo Tây Sa, Nam Sa
vẫn được đặt vào phạm vi tuần tiễu của thủy quân (Trung
Quốc) [ 58 ]
Xem đoạn văn trích dẫn trên, người ta
thấy nội dung tới từ hai sách khác nhau.
Trong Quảng
Đông thông chí, người ta chỉ thấy một đoạn như sau :"Cướp biển có ba đường, đặt quân
quan chống Ủûy (Nhật Bản) để phòng thủ, cuối Xuân đầu Hạ, khi gió
thổi đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự. Đường giữa từ Nam
đầu Thành, huyện Đông Hoàn, ra cửa Phật Đường, cửa Chữ Thập,
Lãnh Thủy Giác, các vùng biển" [ 58 ]. Tác giả chép việc tuần phòng
vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Đông để chống nạn cướp biển Nhật Bản.
Còn trong
Hải Ngữ của Hoàng Trung
(1563) thì chép:
"Nước Xiêm La ở
trong Biển
Qua ghi chép ở hai cuốn sách trên,thấy rõ
cuộc tuần tra biển của thủy quân Trung Quốc lúc đó chỉ là
"phòng ngự" nhằm chống cướp biển đến từ nước Nhật
(Uûy) mà thôi, không hề có chuyện
tuần tiễu quần đảo Tây Sa, Nam Sa.
Còn việc tuần tiễu của Ngô Thăng,
trước hết tìm hiểu vị trí các địa danh trên chúng ta
được biết Quỳnh Nhai là thủ phủ Quỳnh Châu ở phía Bắc đảo Hải Nam,
Đồng Cổ là quả núi cao 339m ở phía
Đông Bắc đảo Hải Nam, Thất Châu Dương là phía Đông đảo Hải Nam, Tư
Canh Sa là bãi cát phía Tây đảo Hải Nam. Đây chỉ là cuộc tuần tiễu của
Ngô Thăng quanh đảo Hải Nam, chứ
không đến Tây Sa nên nhớ rằng Thất Châu Dương ở phía Đông đảo Hải Nam nên không hề
là Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, vốn cách Hải Nam hơn 350 hải
lý về phía Đông Nam . [ 58 ]
·
Ba
là việc đo đạc thiên văn của Quách Thủ Kính năm 1279. “Nguyên Sử”
chỉ chép rằng "Quách Thủ Kính
tiến hành đo đạc thiên văn " bốn biển" năm 1279 theo lệnh
của vua Nguyên (quyển 48, tờ 7a -7b) để tìm hiểu vận động của
vũ trụ (mặt trời, mặt trăng, các vì sao) để làm
lịch mới (quyển 164, tờ 4b - 5a) và tiến hành đo đạc ở 27 nơi
trong đó có cả Cao Ly, Thiết Lặc ( thuộc Sibia), Bắc Hải và Nam Hải. Ở Nam Hải, Quách Thủ Kính
đo ở 15 0 Bắc cực (tương đương với vĩ độ 14 047 B [58]
Chúng tôi cũng xin dẫn thêm các
chính sử của Việt Nam như Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã trích thiên Nghiêu
Điển trong Kinh Thư mà Khổng
Tử đã san định, chép rằng: “Vua Nghiêu lại sai Hy Thúc đến ở Nam Giao (Giao Chỉ tại phương
Nam), sắp đặt việc làm ruộng theo thời tiết ở phương Nam, kính cẩn ghi
bóng mặt trời ngày hạ chí là ngày dài nhất và xem sao Đại Hoả ở
phương Nam để định cho đúng tiết trọng hạ, lúc đó dân cư tản
mác." (Quốc Sử Quán nhà Nguyễn ( bài dịch), Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tiền biên, quyển nhất,
Sài gòn, Bộ Văn Hoá Giáo Dục, 1965, tr 27)
Sự kiện trên đây nếu theo cách lý luận của
các nhà nghiên cứu Trung Quốc chẳng lẽ lại giúp cho Trung Quốc
khẳng định cương vực Trung Quốc đã bao gồm cả đất Giao Chỉ tự đời Đường Nghiêu (bao
gồm cả Tây Sa) chứ không phải chỉ sau này đời Tần, đời
Hán! Vì thế, việc đo đạc thiên văn không thể lấy làm cơ
sở để xác lập chủ quyền. Điều quan trọng là nhiều tài liệu, trong
đó các bản đồ của Trung Quốc xuất bản trước năm 1909 đều xác
định cực Nam của Trung Quốc ở đảo Hải Nam ( xem các tài liệu
dẫn ở dưới đây).
·
Bốn là các đảo Nam Hải đã được
vẽ vào bản đồ Trung Quốc. Các tác giả bộ sưu tập do Hàn Chấn
Hoa chủ biên cũng rất công phu đưa ra 13 bản đồ và chia làm hai
loại. Một loại là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh có vẽ các
đảo Nam Hải. Một loại khác là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh và
các nước Phiên thuộc,
cũng có vẽ các đảo Nam Hải.
Nghiên cứu kỹ các bản đồ mà Trung
Quốc viện dẫn, người ta thấy ngay các bản đồ loại 1 trên tức bản đồ Trung Quốc đời
Nguyên, Minh, Thanh có vẽ các
hải đảo như bản đồ Trực tỉnh
hải dương tổng đồ trong Dương
Phòng Tập Yếu không
những có tên Vạn lý Trường Sa , lại còn vẽ các
địa danh khác như Tiểu Lưu Cầu, Đại Lưu Cầu (nay là quần đảo Ryu
– Kyu của Nhật), Đối Mã (đảo Tsuma của Nhật) …Chẳng lẽ
những đảo trên của Nhật Bản có trên bản đồ Trực Tỉnh Hải
Dương Tổng Đồ cũng thuộc lãnh thổ Trung Quốc như Vạn lý
Trường Sa mà Trung Quốc đã gán ghép hay sao? Hoặc như bản đồ
Quảng Đông Dương Đồ cũng trong Dương Phòng Tập Yếu cũng ghi
tên Cửu Nhũ Loa Châu của hình núi cao (3 chóp non) và nằm cạnh Lê Đầu Sơn,
Nam Bành, hai địa danh này người ta lại thấy trên bản đồ phòng
thủ biển trong Quảng Đông Thống Chí Ngũ Nguyên ( 1822) chính lại
là tên những đảo ven bờ. Cửu Nhũ Loa Châu chính lại là địa danh của hòn đảo gần bờ
biển Trung Quốc, không phải là tên quần đảo Tây Sa Trung Quốc mới đặt sau
năm 1907.
Đối với loại bản đồ thứ hai là "loại
bản đồ Trung Quốc đời Minh Thanh và các nước phiên thuộc" lại
càng khó chứng minh bằng bản đồ, đảo nào thuộc Trung Quốc !
Trong khi ấy tất cả những loại bản đồ
cũng như các sách địa dư do nhà nước biên soạn từ đời
Tống (960 – 1279) đến đời Thanh (1616 – 1911) lại không hề vẽ và
ghi các đảo ở biển Nam Hải. Ngược lại có rất nhiều bản đồ chính
thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh trong đó có bản đồ
ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản
năm 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910 đã vẽ cực nam của
lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở
Biển Đông và bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn HoàngThanh Nhất Thống dư địa toàn
đồ xuất bản năm Quang Tự 20
(1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là
Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18độ 30phút Bắc, trong khi
Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc
đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17độ 5phút. Ngoài
ra còn rất nhiều bản đồ của Trung Quốc
khác, vẽ trước năm 1909 đều xác định điểm cực Nam
Trung Quốc là đảo Nam Hải. (Xem các bản đồ của Trung Quốc trong phần
hình ảnh) . Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung
Quốc.
·
Năm
là vào năm 1883, người Đức tiến hành điều tra quần đảo Tây Sa. Chính
phủ Trung Quốc kháng nghị, người Đức đã ngừng công việc này.
Đây là
luận điểm cũng rất tiêu
biểu về sự mơ hồ của Trung Quốc, chẳng có bằng chứng cụ thể
về sự kiện này cả. Trong khi có rất nhiều bằng chứng cho biết việc
người Đức điều tra đo đạc từ năm 1881 đến 1884 ở hấu hết các vùng
biển từ Hải Nam đến Bắc Hải, Vi Châu đến tận Hạ Môn, Phúc Châu
không có gì trở ngại, có kết quả tốt mà Sở Thủy đạc hải
quân (Pháp) đã sử dụng vẽ bản đồ Mer de Chine Méridionale - Archipel des Paracels, xuất
bản năm 1885, mang mã số 4104, ghi rất rõ là"d'après
les levés Allemands" (1881-1883) .
Trên đây là những luận cứ, luận chứng
được “coi mạnh nhất” của Trung Quốc để dẫn chứng cho việc xác
lập chủ quyền của Trung Quốc đối
với quần đảo Hoàng Sa. Không cần nói nhiều đến những luận cứ
rất yếu như chính quyền địa phương Trung Quốc đã cứu giúp
tàu thuyền nước ngoài lâm nạn, viện dẫn 2 vụ việc thuyền
nước ngoài bị đắm ở Cửu Châu Dương (thuộc Vạn Châu) và ở
Thất Châu Dương xảy ra vào đời Càn Long thứ 20 (1755) và năm thứ 29
(1762), chính phủ nhà Thanh lệnh cho quan chức địa phương chu cấp
cho người sống sót về nước. Những vụ đắm tàu lâm nạn trên
cũng được chép cách sau rất lâu vụ đắm tàu của những
người lính Hoàng Sa được chúa Nguyễn sai đi làm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa, chẳng may
gặp bão dạt vào cảng Thanh Lan được chính quyền Quỳnh Nhai
thuộc đảo Hải Nam tra xét đúng sự thực đã chu cấp tử tế và
đã được chúa Nguyễn Phúc Khoát viết thư cám ơn (như Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn và Đại Nam Thực Lục Tiền Biên ghi rất rõ).
·
Đối với Nam Sa (tức Trường
Sa của Việt
Khác với quần đảo Hoàng Sa hiện chỉ có Trung
Quốc xâm phạm, chủ quyền quần
đảo Trường Sa hiện có nhiều nước xâm
phạm: Trung Quốc (gồm cả Đài Loan),
Hiện Đài Loan đã chiếm đảo lớn nhất Ba
Bình (Itu Aba), còn Trung Quốc chỉ mới chiếm bằng vũ lực
gồm 9 đá ngầm từ năm 1988 ,
Philippines chiếm 9 đảo và đá ngầm (4 đảo) ở phía Đông quần đảo;
Malaysia chiếm 5 đá ngầm ở phía Nam.
Vào năm 1909, Trung Quốc chỉ mới đặt vấn đề
và có hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Tây Sa
tức Hoàng Sa, chưa đề cập đến Nam Sa tức Trường Sa của Việt Nam. Từ năm
1935, để phản ứng hành động của chính quyền thực dân Pháp ở Việt
Nam, Trung Quốc mới bắt đầu dịch hết các tên hải đảo ở Biển
Đông và gọi Nam Sa là quần đảo Macclessfield. Đến năm 1947, Trung Quốc
mới gọi Nam Sa để chỉ Trường Sa của Việt
Như thế, từ thập niên 30 đến 70, ban đầu Trung
Quốc chỉ đưa ra luận điểm “Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ lâu
đời bất khả tranh nghị”, sau đo,ù cũng như quần đảo
Hoàng Sa, Trung Quốc mới đưa ra luận điểm “Trung Quốc là nước phát
hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất” và “quản hạt sớm nhất”! Thời
gian thì lại bất nhất. Khi thì vào đời Tống, khi thì
vào đời Hán.
Từ thập kỷ
80 trở đi, trong văn kiện Bộ Ngoại Giao ngày 30-1-1980, cũng như trong
Bộ Tư Liệu của Nhóm Hàn Chấn Hoa, Trung Quốc bắt đầu đưa những
tài liệu lịch sử để minh chứng những luận điểm, luận cứ
của họ.
Văn kiện ngoại giao ngày 30-1-1980 đã dẫn cuốn "Nam Châu Dị Vật Chí" của
Vạn Chấn và cuốn "Phù Nam
truyện" của Khang Thái đời Tam Quốc.
Nghiên cứu nội dung của Nam Châu Dị Vật
Chí của Vạn Chấn và Phù Nam truyện
của Khang Thái đời Tam quốc, chúng ta không thấy có bằng chứng nào
về sự phát hiện quần đảo Nam Sa cũng như Tây Sa. [ 58 ]
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc như nhóm Hàn
Chấn Hoa đã tìm kiếm trong sách sử những địa
danh như Từ Thạch, Trường Thạch, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch
Đường, Trường Sa, Thạch Đường, … là những đảo san hô hay cát
ven biển hoặc vùng biển ven bờ để chú giải, gán ghép cho Nam Sa mà
chính địa danh Nam Sa này cũng chỉ mới đặt ra và lại di
chuyển như đã nêu trên, từ đảo Macclesfield (năm 1935) đến vùng
Spratly (năm 1947), một khoảng cách xa hơn 500 cây số về phía Nam. Sự tùy tiện gán ghép của
các nhà nghiên cứu Trung Quốc được thể hiện rất rõ khi
thì Vạn Lý Thạch Đường chỉ Tây Sa, Trung Sa, lúc thì chỉ
Nam Sa.
Văn kiện ngoại giao ngày 30-1-1980 còn
dẫn các sách “Mộng Lương Lục”
đời Tống, “Đảo Di Chí Lược” đời Nguyên, “Đông Tây Dương Khảo” và
“Thuận Phong Tương Tống” đời Minh, “Chỉ Nam Chinh Pháp” và “Hải Quốc
Văn Kiến Lục” đời Thanh, cho rằng những sách đó không
những đã lần lượt
đặt cho 2 quần đảo Tây Sa và Nam Sa những tên “Cửu Nhũ
Loa Châu”, “Thạch Đường”, “Thiên Lý Thạch Đường”, “Vạn Lý Thạch
Đường”, “Trường Sa”, “Thiên Lý Trường Sa”, “Vạn Lý Trường Sa” v.v… mà
còn đặt cho các đảo đá ngầm và
bãi cát thuộc 2 quần đảo này nhiều tên gọi hình
tượng linh động …
Chúng ta thử lật từng trang các sách
dẫn trên hoặc coi những đoạn trích mà các nhà nghiên
cứu như nhóm Hàn Chấn Hoa đã dẫn ra để chứng minh cho
chủ quyền của Trung Quốc. Sách Mộng
Lương Lục của Ngô Tự Thu viết năm 1275 không viết gì ngoài việc đề cập đến địa danh
Thất Châu và Thất Châu Dương Côn Lôn, trong một đoạn văn như sau : “Nếu dùng thuyền đi vòng ra nước ngoài
buôn bán, thì ra biển từ Tuyền Châu, đi liên tiếp qua Thất
Châu Dương, ở thuyền dò nước sâu hơn 70 trượng… Từ xưa người đi
thuyền đã nói : “Đi sợ Thất
Châu, về sợ Côn Lôn” cũng
sâu hơn 50 trượng. Nếu người buôn chỉ đến Đài Ôn, Tuyền Phúc buôn
bán, không phải qua biển lớn Thất Châu Dương và Côn Lôn. Nếu có ra biển tất phải
từ cảng Tuyền Châu, đến cửa Đại Dũ mới có thể ra biển đi
rộng ra nước ngoài.” Thế mà nhóm biên tập Hàn Chấn Hoa ghi chú
rằng Thất Châu ở đây là quần đảo Nam Sa, còn Thất Châu Dương chỉ
vùng biển một dải quần đảo Tây Sa và hàm ý minh chứng chủ quyền
thuộc Trung Quốc. [ 58 ].
Sách Đảo Di
Chí Lược của Uông Đại Uyên đời Nguyên cũng chỉ đề cập đến
Côn Lôn, Thạch Đường, Vạn Lý Thạch Đường và cho rằng “ngày
xưa núi Côn Lôn còn gọi là quần đồn sơn. Núi cao mà vuông, bệ chân
núi mấy trăm dặm rành rành giữa biển cả đứng thành thế chân
vạc với Chiêm Thành và núi Tây Trúc, dưới có biển Côn Lôn, nhân
đó mà có tên ấy. Thuyền buôn đi Tây Dương phải qua (biển đó) cho
nhanh, thuận gió thì 7 ngày đêm có thể vượt qua được. Ngạn
ngữ nói “Trên có Thất Châu, dưới có Côn Lôn”. Sách Đảo
Di Chí Lược còn chép rằng vỉa đá (xương) Thạch Đường sinh ra từ Thiều Châu liên tiếp như con rắn dài, nằm ngang kéo
dài trong biển. Các nước vượt biển có câu: “Vạn Lý Thạch Đường – Thuyền từ cửa Đại Dũ treo 4
buồm, cưỡi gió rẽ sóng trên biển như bay đến Tây Dương,
có thể mất hơn 100 ngày, lấy số dặm đi được trong một ngày đêm mà tính thì vạn dặm
cũng chưa đủ. Một mạch đến Qua Da (30), một mạch đến Bột Nê (31)
đến Cổ Lý (địa muộn), một mạch đến đất Côn Lôn xa xôi của
Tây Dương cho nên Tử Dương Chu Tử nói rằng đất hải ngoại cùng mạch
đất Trung Nguyên liên tiếp nhau có phải thế không? Xem biển cả mênh
mông không bờ bến, trong ẩn dấu
Thạch Đường, ai mà rõ được? [ 58 ]
Thế mà nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú núi Côn
Lôn là quần đảo Nam Sa và biển Côn Lôn cũng chỉ quần đảo Nam
Sa và hàm ý minh chứng chủ quyền thuộc Trung Quốc!.
Nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú rằng “Đăng Điền Phong Bát cho rằng Vạn Lý
Thạch Đường là quần đảo Trung Sa. Chúng tôi (nhóm Hàn Chấn Hoa) cho
rằng: “Thạch Đường đã phân bố tại các khu vực từ Triều Châu
đến Java đến Bột Nê (Calimanlan), Cổ Lý địa muôn (đảo Đế Uẩn)
và Côn Lôn. Như vậy Vạn Lý Thạch Đường rõ ràng bao gồm các
đảo Nam Hải trong đó có các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa”.
[ 48
]
Đông Tây Dương Khảo của Chương Tiếp (đời Minh) quyển 9, Châu Sư Khảo, Tây Dương Châm
Lộ, bản có lời tựa năêm Mậu Ngọ
Vạn Lịch đời Minh (1618)
cũng vậy, có đoạn chép rõ vị trí của Thất
Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường như sau: “Ở Chư Sơn … dùng kim la bàn đến thành Tây Nam, đến khoảng
13 canh đến Thất Châu
Sơn, Thất Châu Dương (Quỳnh Châu)",và chỉ nói rằng :
"Trong biển phía
Đông huyện Văn Xương 100 hải lý có núi, nhô liền 7 ngọn, trong có
suối, nước ngọt ăn được là nơi quân của Lưu Thân nhà Nguyên đánh
đuổi Tống Đoạn Tông bắt được người thân của vua Tống là Du Diên
Khuê".
“Tục truyền xưa đây
là Thất Châu, chìm xuống
thành biển, thuyền qua dùng sinh (Lòng trâu hoặc dê), cháo tế vua đi
tuần biển nếu không hung thần làm ác, thuyền qua đó rất nguy hiểm.
Hơi lấn sang phía Đông là Vạn Lý Thạch Đường tức là cái mà Quỳnh
Chi gọi là Thạch Đường Hải. Thuyền phạm vào Thạch Đường , ít cái
thoát được. Thất Châu Dương đo độ sâu nước 130 sải".
“… Thuyền đến Thất Châu Dương và Ngoại La gặp mấy
ngày này cần nhắc thân thuyền, không được lệch về Tây, Tây không
có nước, cần trệch về phía Đông. Phàm đi thuyền, phải xem nước phía Tây
sắc xanh, thấy nhiều “bãi lãng ngư” (là lạng sóng), lấn
về Đông tất mầu nước đen; mầu xanh, có cây gỗ mục trôi và
chim vịt kêu, tiếng như chim trắng đuôi mang đen ấy là hướng
đúng (chính chân). Nếu ngại vào mà cho thuyền chạy lệch
về phía Đông, chạy trong 7 canh là Vạn Lý Thạch Đường trong có 1
núi đá đỏ không cao. Nếu thân thuyền cạn lại thấy đá phải
đề phòng cẩn thận!”[ 48 ].
Đến đây, nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú Thất Châu
Dương là Tây Sa, Thất Châu, Vạn Lý Thạch Đường … chỉ chung các đảo Nam Hải.
Sách Thuận
Phong Tương Tống chép: “Ngày xưa
các bậc tiên hiền Thượng Cổ đi trên biển, đều sử dụng phổ biến la
bàn 24 vị (ngôi). Đường chính
đi Thất Châu Dương trên không rời
Cấn (Đông Bắc đến Đông) dưới không rời Khôn (Tây
Hải Đạo Chân Kinh là hợp biên 2 sách Thuận Phong Tương Tống và Chỉ Nam Chính Pháp (cuối Khang Hy nhà
Thanh) có đoạn chép: “Thất Châu
Dương nước sâu 120 thác (sải tay). Khi đi và khi về, tế cô
(những cô hồn) bằng tam sinh (lợn, trâu, dê) rượu ngọt, cháo.
Thuyềân lấn sang Đông chim nhiều, lấn sang Tây cá nhiều" [ 58 ].
“Giao Chỉ Dương thấp phía
Tây, có đảo cỏ, nước chảy xiết, có lau sậy nhiều củi, các cá bay,
lấn sangTây có bái phong ngư. Đo độ sâu của nước được 45 sải. Lấn
sang phía Đông đi thuyền 7 canh có Vạn Lý Thạch Đường” [ 58
].
Sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân
Quýnh cũng chép vị trí
của Vạn Lý Trường Sa: "Phía
Đến đây sách Hải
Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (đời Nhà Thanh) đã bắt
đầu viết rõ về vị trí của Vạn Lý Trường Sa song không
có cơ sở để nói rằng Vạn Lý Trường Sa chỉ Nam Sa hay Trường Sa của
Việt
Như chúng ta đã biết, với những
dẫn chứng rất mơ hồ và rối mù trên, các nhà học giả Trung
Quốc cố gán ghép tùy tiện cho Tây Sa hay Nam Sa. Nếu chúng ta nghiên
cứu kỹ thì những sự kiện xảy ra chỉ loanh quanh ở
vùng biển gần Phúc Kiến, Quảng Đông, không xa về phía Nam, rồi dần
dần sau 1907 các địa danh Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa mới bắt đầu
xuất hiện. Chính Nam Sa cũng thay đổi di chuyển từ Trung Sa hiện
giờ xuống Nam Sa hiện nay cách hơn 500, 600 km!
Côn Lôn được người Trung Quốc sử dụng từ xưa
trước Công Nguyên để chỉ một quả núi mà truyền thuyết cho rằng Mục
Thiên Tử nước Tần đã đến đây để thăm
Tây Vương Mẫu. Sau đó người Trung Quốc
đã dùng chữ ấy để chỉ nhiều ngọn
núi cao, cuối cùng chỉ cả núi
Việc tùy tiện gán ghép địa danh Tây Sa
cũng như Nam Sa như trên càng quá rõ ràng khi chúng ta
phát hiện tài liệu của Trung Quốc được sưu tầm trong “Bộ sưu tập sử
liệu" của nhóm Hàn Chấn Hoa, đã xác định rõ
ràng vị trí của Vạn Lý Trường Sa
như sách Quảng Đông Đồ Chí
của Mao Hồng Tân chép Vạn Lý Trường Sa thuộc Việt Hải (ở ngoài
biển có huyện Quỳnh Châu…) càng chia ra nhiều đảo nhánh, đảo lớn
nhỏ lô nhô, có nhiều bãi ngầm, đá ngầm, càng hiểm trở đó là Vạn Lý Trường Sa. Đây là
những tên cửa biển Việt (Quảng Đông) từ Đông Vạn Châu đến
tận Nam Aùo ( Sách
Quảng Đông Đồ Chí,
khắc bản Đồng Trị 5 (1860), quyển 67, phủ Quỳnh Châu , tr 3)
Sách Quỳnh Châu Phủ Chí của Minh Nghi, sách Nhai Châu Chí của Chung Nguyên Đệ, sách Cảm Ân Huyện Chí của Chu Văn Hải cũng ghi Thiên Lý Thạch Đường,
Vạn Lý Trường Sa thuộc Quỳnh Dương,
Việt Hải là biển Đông của Quảng Đông, xứ Bách Việt xưa, Quỳnh Dương
là biển Đông cùa Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam đều thuộc vị
trí kế cận tỉnh Quảng Đông, không thể xuống tận Nam Sa hiện nay được
[ 58 ].
Rất nhiều sách của Trung Quốc tả lộ
trình đi biển đều nói rất rõ về Vạn Lý Trường Sa, Thiên
Lý Thạch Đương, không thể nào ở xa như vị trí “Nam Sa” hiện nay.
Sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của
Trần Luân Quýnh mô tả đường đi từ
Hạ Nam đến xứ Quảng Nam khi thấy
Ngoại La Sơn (Cù lao Ré) của xứ Quỳnh , nếu chệch về Đông thì
phạm vào Vạn Lý Trường Sa , Thiên Lý Thạch Đường mà chệch về Tây
sợ rằng thuyền chạy vào vịnh Quảng Nam.
Như thế cho tới giữa thế kỷ 19 và
mãi cho tới năm 1947, Vạn Lý Trường Sa chưa bao giờ được Trung Quốc chỉ Nam Sa hay Spratley hay
Trường Sa của Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với thực tế,
cho tới năm 1909, chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc quan tâm đến
việc chiếm hữu các quần đảo ở Biển Đông. Riêng quần đảo Nam
Sa mà Trung Quốc gọi là Đoàn Sa
năm 1935 và đổi tên là Nam Sa từ năm 1947, còn bị chậm hơn Tây Sa ít ra gần ba chục năm. Khi
chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam làm thủ tục chiếm
hữu theo truyền thống Phương
Tây vào những năm 1930 đến 1933 thì Trung Quốc mới thực
sự quan tâm và có ý đồ xâm phạm chủ quyền ở quần đảo này với
thực dân Pháp đang bảo hộ Việt Nam
về mặt ngoại giao.
Tên “Nam Sa” cũng không có nhiều bằng
chứng dù là giả tạo như Tây Sa mà Trung Quốc viện dẫn về sự
phát hiện. Không có gì giá trị vì đại loại
cũng giống như những viện dẫn về Tây Sa mà chúng
ta đã biết ở trên đây.
Văn kiện Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980
cũng như Bộ Sưu Tầm Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng
nêu tư liệu văn vật khảo cổ hay tư liệu Canh Lộ Bạ của các ngư dân
ở đảo Hải Nam. Thật uổng công, bởi dù có tìm thấy nhiều cổ
vật Trung Quốc hay đồng tiền cổ (như tiền Vĩnh Lạc) thì
cũng giống như các nhà khảo cổ Pháp tìm thấy nhiều đồng
tiền La Mã và cổ vật của thời La Mã cổ đại ở di chỉ
Oùc Eo (Nam Bộ Việt Nam). Không thể kết luận người La Mã
đã phát hiện hay có chủ quyền đối với Việt
Với những luận cứ, luận chứng phi lý,
mơ hồ, thiếu xác thực như trên, văn kiện Bộ Ngoại Giao Trung Quốc năm
1980 lại phê phán lập luận trong sách trắng Việt Nam năm 1979 rằng
“phần đầu những tư liệu đó một ngón chỉ hươu nói là ngựa, còn
phần sau thì hoàn toàn không thể đứng vững được và
cũng là không có giá trị luật pháp”.
Văn kiện trên cho rằng quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa của Việt Nam vốn hoàn toàn không phải là quần đảo Tây Sa,
Nam Sa của Trung Quốc, mà chỉ có thể là những đảo và cồn
cát ở ven biển miền Trung Việt
Nam, mà nhóm Hàn Chấn Hoa còn nói bừa rằng Hoàng Sa chính là Cù Lao
Ré hay Cù Lao Chàm. Trong khi chính ngay Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí
Đôn, tài liệu mà Trung Quốc viện dẫn lại có nhiều đoạn ghi
rất rõ Bãi Hoàng Sa ở gần địa phận Phủ Liêm Châu
thuộc Hải Nam hay sự kiện hai lính Hoàng Sa trong khi đi công tác
bị giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) vào năm Càn Long thứ 18
(1754).
Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 viết
rằng cuốn sách trắng của Việt Nam
1979 không tìm ra được bất cứ một tài liệu lịch sử
nào có giá trị công nhận Trường Sa tức là quần đảo Nam Sa của Trung Quốc. Điều này
là đương nhiên vì Nam Sa của Trung Quốc không có thật, bất
nhất: năm 1935 Nam Sa ở bãi
đá ngầm Macclesfield, đến năm 1947 Nam Sa lại chuyển xuống phía Nam như
đã nhắc đến nhiều lần. Rồi đây Nam Sa có ngừng ở vị trí
4 độ Bắc hay còn di chuyển thêm nữa? Sách Phủ Biên Tạp Lục đã xác
định rõ Đại Trường Sa hay Trường Sa của Việt Nam cũng
ở xứ Bắc Hải mà xứ Bắc Hải lại ở phía Nam Biển Đông, tiếp tới đảo
Côn Lôn. Như vậy là đủ rồi !
Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 còn
rêu rao rằng nhà cầm quyền Việt
“Giờ đây, nhà cầm quyền Việt Nam lại
tráo trở lật lọng, nuốt trôi những lời họ đã nói,
hoàn toàn làm sai trái với lập trường trước đây của họ công nhận
quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung
Quốc. Đó là điều luật pháp quốc tế quyết không cho phép được”.
Trước hết, nếu nói đến luật pháp quốc tế
có giá trị cho tất cả các nước (trong đó có cả Trung Quốc)
đã ký hiệp định Genève năm 1954, thì Miền Nam Việt
Nam ở từ vĩ tuyến 17 trở xuống
trong đó bao gồm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa do quân đội
viễn chinh Pháp sau năm 1956 giao lại cho chính quyền ở Miền Nam
Việt Nam quản lý.
Chính quyền Sài Gòn và sau đó chính phủ Cách
Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt
Chính khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa tháng 1 năm
1974, chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam đã từng tuyên bố
rằng vấn đề này là vấn đề lịch sử để lại, cần giải quyết
bằng giải pháp hoà bình
Vì thế, bất cứ lời tuyên bố của bất
cứ chính quyền nào kể cả chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
cũng không có giá trị pháp lý quốc tế về chủ quyền tại hai quần đảo này.
Lập trường của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời
Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam đối với sự kiện Trung Quốc chiếm đóng
Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 đã phản ảnh trung thực đường lối của
Cách Mạng Việt
Trong thực tế, Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc
không phải là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, chỉ là sự gán
ghép, suy diễn, không hề có sự chiếm hữu trong lịch sử của Trung Quốc trước
năm 1909 đối với Tây Sa và trước 1935 đối với Nam Sa.
Văn Kiện Bộ Ngoại Giao cũng như Bộ Sưu
Tập Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng đã tốn công quá
nhiều để dẫn chứng nhiều nước trên thế giới thừa nhận chủ
quyền của Trung Quốc ở Tây Sa và Nam Sa. Đồng minh thì thời
nào, nuớc nào cũng có, sẵn
sàng ủng hộ chủ trương ngoại giao của một nước nào . Cũng như
tại Hội Nghị San Francisco năm 1951, Trung Quốc cũng được
Liên Xô đề nghị Hội Nghị chấp nhận là chủ các quần đảo
Tây Sa và Nam Sa. Song Hội Nghị San Francisco 1951 cũng như sau
này chưa hề có một hội nghị quốc tế nào thừa nhận chủ quyền
của Trung Quốc ở hai quần đảo này. Chỉ thấy Trung Quốc có hành động
vũ lực năm 1974 đối với Hoàng Sa và năm 1988 đối với một số
đảo ở Trường Sa, vi phạm hiến chương Liên Hiệp Quốc mà thôi !
Sau văn kiện ngoại giao ngày 31 tháng 1 năm
1980, Trung Quốc còn công bố bị vong lục năm 1988 đồng thời có
nhiều công trình nghiên cứu như "bộ sưu tập sử liệu"
của nhóm Hàn Chấn Hoa đã dẫn chứng. Tuy có cố gắng sưu
tầm nhiều hơn song luận điểm không có điều gì mới mẻ đáng kể,
cũng cho rằng người Trung Quốc phát hiện sớm như kinh doanh, sản
xuất sớm nhất và quản hạt sớm nhất. Song vì không có thật
nên dù có công phu đến bao nhiêu cũng chỉ là công trình
xây lâu đài trên bãi cát và uổng công “dã tràng xe
cát biển Đông”. Và vì thế trong văn kiện ngoại giao của Trung
Quốc có đưa ra nhiều bằng chứng về sự bảo vệ chủ quyền cũng
như những nước ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa của
Việt Nam đều không đáng quan tâm vì những luận cứ và
luận chứng về sự chiếm hữu thật sự của Trung Quốc đã
không đứng vững, không có cơ sở khoa học, không có tính thuyết
phục.
3.3.2. Phản bác các luận điểm của các nước
Quá muộn màng, gần một nửa thế kỷ sau khi Trung
Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, các
nước ở Đông Nam Á khởi đầu bằng Philippines, tiếp tới Malaysia, Brunei
mới bắt đầu đặt vấn đề xâm phạm chủ quyền trên một phần của quần
đảo Trường Sa.
Công Ước
Về Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc năm 1982 qui định :
-
Mỗi
quốc gia được phép thiết lập lãnh hải không quá 12 hải lý kể
từ đường cơ sở ( Điều 3).
-
"Ở
nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu
có một chuỗi đảo nằm sát
ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối
liền các điểm thích hợp có thể được dùng để kẻ đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải (điều 7).
-
Quốc
gia ven biển không được cản trở việc đi qua không gây hại của các
tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường
hợp mà Công ước đã trù định ( điều 24).
-
Quốc
gia ven biển có thể lập một vùng giáp lãnh hải, không rộng
quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở
dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ( điều 33).
-
Một
quốc gia quần đảo có thể kẻ những đường thẳng để xác định phạm vi lãnh
hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền
kinh tế ( EEZ ) và thềm lục địa với điều kiện là tuyến các
đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà
tỷ lệ diện tích nước so với đất kể cả vành đai san hô, phải
"ở" giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Chiều dài của các đường
cơ sở này không được vượt quá 100 hải lý, có thể có tối đa là 3%
tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều
dài lớn hơn nhưng cũng không quá 125 hải lý (điều 47 và 48).
-
Chủ
quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước ở phía trong đường cơ sở quần đảo được vạch ra
theo đúng điều 47 được gọi là vùng
nước quần đảo, bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của vùng
nước đó như thế nào (điều 49) .
-
Quốc gia có bờ biển được phép có vùng đặc
quyền “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể
từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” ( điều 57)
-
Vấn
đề thềm lục địa, theo công ước 1982 đã chấp thuận cách
định nghĩa mới và xác định giới hạn 200 hải lý thay cho
tiêu chuẩn 200 m độ sâu. Hiện nay , qui mô của thềm lục địa
tương đương với qui mô của EEZ. Người ta qui định rằng thềm lục
địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất
dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn
bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của nước này cho đến mép ngoài của
rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục
địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn ( điều 76.1)
-
Nếu
rìa ngoài của thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, công
ước qui định rằng có hai cách
giới hạn phạm vi của thềm lục địa. Một là mở rộng đến
350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng vùng
lãnh hải. Hai là mở rộng không quá 100 hải lý tính từ đẳng
sâu (150 bath) 2500 mét, là đường nối liền các điểm có chiều sâu
2500 mét (điều 76.5)
-
Công
ước cũng cho phép các đảo có quyền có lãnh hải,
vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục
địa giống như lãnh thổ trên đất liền. Tuy phủ nhận quyền
có thềm lục địa và EEZ đối với những đá không thể nuôi sống con người hoặc
không có cuộc sống kinh tế riêng, song rõ ràng công ước
đã làm cho sự tranh chấp trở nên phức tạp khi xảy ra đầy
rẫy những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán quốc
gia trong phạm vi cách nhau 400 hải
lý.Việt Nam cùng các nước khác trong vùng cũng đã công
bố những đường cơ sở của bờ biển cũng như thềm lục
địa và EEZ . Chắc chắn sẽ xảy ra những vùng chồng
lấn tranh chấp chỉ với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc
ở rất xa không hề có hiện tượng chồng lấn ở Trường Sa, nếu có chỉ
có thể ở Hoàng Sa mà thôi.
Đối với Philippines, lãnh hải trước đây
đã được ghi rõ trong bản hiệp định giữa
Mỹ và Tây Ban Nha năm 1895 (điều 3 Hiệp định ký 10/12/1898
giữa Tây Ban Nha và Mỹ) xác định biên giới phía
Tây của Philippines đi qua kinh gốc 118 o Đông, như vậy là
không bao gồm một đảo nào trong quần đảo Trường Sa) và trong hiệp
định giữa Mỹ và Anh hồi năm 1930, đã được
tính dọc theo các đường kinh tuyến và vĩ tuyến song song tạo thành
vùng hình chữ nhật.
Trong hai năm 1949 và 1950, Tomas Cloma, chủ một
đội ngư thuyền và thương thuyền đồng thời là giám đốc một trường hàng hải Philippines
đã khám phá thấy một nhóm đảo lớn nhỏ ở cạnh đảo Palawan
của Philippines khoảng 400 dặm về phía Tây. Ông hy vọng lập một nhà
máy nước đá và một nhà máy đóng đồ hộp ở trên một hòn đảo lớn nhất ở đây cũng như là khai thác phân
chim trong những hòn đảo kế cận.
Ngày 17 tháng 5 năm 1951, Tổng Thống Philippines
lên tiếng đòi chủ quyền quần đảo Trường Sa lấy cớ là Trường Sa ở
sát cạnh quần đảo Philippines.
Ngày 24 tháng 8 năm 1951, Tân
Hoa Xã tranh cãi về chủ quyền của Pháp và
những tham vọng của Philippines và kiên quyết khẳng định
chủ quyền của Trung Quốc.
Ngày 15 tháng 3 năm 1956,
Thomas Cloma cùng một nhóm tìm kiếm
Philippines đổ bộ lên vài đảo ở quần đảo Trường Sa, viện
cớ đó là những đảo
hoang vô chủ và đặt tên cho những vùng đã chiếm là
“Freedomland”. Sau đó Thomas Cloma thông báo cho Ngoại trưởng
Năm 1971, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Philippines thông báo là để đảm bảo an ninh cho Philippines, Philippines đã chiếm đóng 4 đảo Vĩnh Viễn, SongTử Đông, Loaita, Thị Tứ mà họ gọi là Lawak, Parola, Kota, Pagasa.
Ngày 16 tháng 7 năm 1971, Tân Hoa Xã lên án việc
Philippines chiếm đóng một số đảo
của quần đảo Trường Sa và khẳng định các yêu sách của Trung
Quốc đối với quần đảo này.
Năm 1978, Philippines chiếm thêm đảo Panata trong quần đảo
Trường Sa, nâng tổng số đảo họ chiếm lên 7 đảo, ngoài 4 đảo
đã chiếm 1971, 2 đảo khác họ lấy tên Likas và Pugad. Ngày 11
tháng 6 năm 1978, tổng thống Philippines ký sắc lệnh coi hầu hết quần
đảo Trường Sa trừ đảo Trường Sa (Spratley), là lãnh thổ
Philippines gọi là Kalayaan.
Ngày 2 tháng 3 năm 1978, quân đội Philippines chiếm thêm 1 đảo
nữa, đảo Lan Kian Kay trong
quần đảo Trường Sa.
Ngày 28 tháng 7 năm 1980,
Ngày 21 tháng 5 năm 1984, Hiệp Ước Phòng Thủ
chung Mỹ
Cũng
vào tháng 5 năm 1984, trước
sự phản đối liên tiếp của phía Việt Nam, ông Win Naelson, Tổng Thư
Ký OMM đã trả lời phía Việt
Nam: “Cái tên gọi được dùng trong
công bố này và việc trình bày các số liệu ở trong đó không
ràng buộc đối với tổng thư ký OMM về bất cứ việc đưa ra quan điểm nào có liên quan
đến quy chế pháp lý của các nước, các lãnh thổ, các thành
phố hoặc khu vực hay các hoạt động của họ, cũng không ràng
buộc về việc vạch ra các đường biên giới hay giới hạn của các
nước”.
Malaysia, ngày 21 tháng 12 năm 1979 đã
công bố một bản đồ mới qui định ranh giới thềm lục địa và
vùng biển của mình, trong đó, có một vùng rộng lớn phía Nam
quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trước đó vào năm 1971, sứ quán của
Malaysia gửi công hàm số EJ7-71 ngày 3 tháng 2 năm 1971, hỏi Bộ Ngoại
Giao Việt Nam Cộng Hoà các đảo nằm trong lãnh thổ của nước
gọi là Cộng Hoà Morac - Songhrati - Meads,
nằm giữa vĩ tuyến 90 Bắc và kinh tuyến 1120 Tây có
thuộc hay là đối tượng yêu sách của Việt Nam Cộng Hoà không? Ngày
20/4 trong công hàm trả lời, Chính quyền Sàigòn đã khẳng
định quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt
Ngày 15
tháng 5 năm 1980, Malaysia đã tuyên bố nhận chủ quyền khu EEZ
rộng 200 hải lý và đề nghị giải quyết các vùng phân
định phạm vi quyền tài phán chồng lên bằng các biện pháp hoà
bình. Ranh giới ngoài của thềm lục địa của Malaysia bao
gồm một phần phía Nam của quần đảo Trường Sa của Việt Nam, trong đó
có các đảo An Bang, Thuyền Chài do Việt Nam chiếm giữ và đá
Công Đo do Philippines chiếm đóng. Đây là yêu sách chính thức đầu
tiên của
Ngày
23 tháng 2 năm 1983,
Tháng
12 năm 1986,
Vì bắt đầu tranh chấp quá chậm, từ
cuối thập niên 70 nên
"Các đảo và đá san
hô thuộc chủ quyền của
Năm 1995,
Ngày 27 tháng 6 năm 1996, phát biểu tại buổi
khai mạc "Chương trình thị trường du lịch
Langkawi", Thủ Tướng Malaysia Mahathir Mohamad nói rằng các đảo san
hô ở Biển Đông mà Malaysia đã xây dựng các kết cấu nằm trong
vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và như vậy Malaysia không hề xâm
phạm lãnh thổ của quốc gia nào cả. (TTXVN, Tin Nhanh, ngày 28-6-1996)
Tháng 6-1999, Malaysia chiếm đóng và xây dựng
công trình nhà hai tầng và các cơ sở Rađa trên bãi cạn
Thám Hiểm (Peninjan) và đá Én Ca (Siput), cách bờ biển phía Đông
Malaysia 160-170 hải lý.
Brunei thì đã ban hành đạo luật
đánh cá năm 1982 rộng 200 hải lý, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1
năm 1983. Vùng này chồng lấn với các vùng đặc quyền về kinh tế mà
các nước láng giềng nhận chủ quyền.
Còn Indonésia cũng tuyên bố nhận EEZ
rộng 200 hải lý tháng 3 năm 1988, song không có sự tranh chấp nào
liên quan đến quần đảo Trường Sa.
Ngày
Trình bày những sự kiện trên đây
cốt để chứng tỏ sự xâm phạm chủ quyền Việt
Luận điểm của
Song Luật Biển năm 1982 cũng đã
qui định khi có chồng lấn với nước đã có chủ quyền ở
các hải đảo thì phải giải
quyết bằng con đường thoả thuận theo đúng pháp luật quốc tế như
đã được nêu ở điều 38 của quy chế Toà Aùn Quốc Tế, để đi đến
một giải pháp công bằng (điều 74, 83).
Khác với Việt Nam và Trung Quốc, các nước
Philippines, Malaysia, Brunei đều không chủ trương đòi chủ quyền tất cả
quần đảo mà chỉ một phần, Philippines đòi nhiều hơn, trừ đảo Trường
Sa (Spratly) của Việt Nam, Malaysia lấy các đảo Loaita làm ranh giới,
Brunei cũng thế đòi chủ quyền các đảo kế cận nước họ. Từ
những năm thập niên 80, các nước Philippines, Malaysia đã
dùng vũ lực chiếm đóng và có những hành động khiêu
khích đối với lực lượng bảo vệ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa,
là vi phạm công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
cũng như Hiến Chương Liên Hợp Quốc.