Hoàng Sa là đất vô chủ.

Sau đó để phản bác  những bằng chứng mà chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam nêu lên, Trung Quốc lại đưa ra những luận điểm như :

1.      “Chính phủ đời Thanh năm 1909 đã cử tới đây một đơn vị hải quân để nghiên cứu các điều kiện của các đảo và thực hiện hành vi chiếm hữu thật sự đối với các quốc gia khác trên thế giới, cờ Trung quốc đã được kéo lên và được chào mừng bởi các loạt sứng đại bác trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm). Chính phủ Pháp cùng vào thời kỳ đó đã không phản ứng gì”

2.       “Trăm năm trước đây Đông Dương vẫn dưới sự bảo trợ của Trung Quốc, nên các đảo Paracels đã là lãnh thổ của Trung Quốc, Đông Dương không có quyền gì thực hiện những hành động chiếm đóng đất đai của tôn chủ họ”

3.      Theo  “Điều 3 Công Ước Trung Quốc ký kết với Pháp ngày 26-6-1887 hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ, Paracels ở về phía Đông kinh độ qui định 108o2 Đ đương nhiên thuộc về Trung Quốc” [ 48  ]

Việc chính phủ Pháp vào thời kỳ ấy chưa phản ứng ngay hành động xâm phạm của chính quyền địa phương Quảng Đông, theo luật pháp quốc tế thời ấy không vì thế mà Việt Nam mất chủ quyền. Không thể coi  Việt Nam như nước chư hầu thời phong kiến châu Aâu để mà nói  “lãnh thổ Việt Nam hay các đảo Paracels đương nhiên thuộc Trung Quốc”. Càng không thể nói: “Việt Nam đã xin thần phục “Thiên Triều Trung Quốc” lại dám xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc suốt ba thế kỷ”. Chẳng khi nào xảy ra các đảo Paracels đã là lãnh thổ Trung Quốc mà các thành viên đội  Hoàng Sa làm nhiệm vụ, gặp bão, trôi dạt vào cảng Thanh Lan năm 1754, được chính quyền Hải Nam tra xét thực hư, lại chu cấp cho trở về Việt Nam một cách dễ dàng và được Chúa Nguyễn Phúc Khoát gửi  thư cám ơn như Phủ Biên Tạp Lục  cũng như  Đại Nam Thực Lục Tiền Biên  đã ghi rành rành như thế!

Công ước Trung – Pháp năm 1887 chỉ quy định biên giới ở “ Vịnh Bắc Kỳ” mà Hoàng Sa ở ngoài vịnh Bắc Kỳ, từ vĩ tuyến 17 trở xuống nên dẫn Công Ước 1887 là không đúng.

Đến cuối thập niên 40 thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Bản Trích Lục Báo Cáo Những Vấn Đề Nghiên Cứu Quần Đảo Tây Sa do Ủy Ban Thu Thập Biên Soạn Về Tây Sa, Nam Sa của chính phủ Quảng Đông vào năm 1947  [ 48 ] đề xuất những luận điểm dưới đây:

-         Một là Tổng đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn vào năm Quang Tự thứ 33, đã phái người ra điều tra Đông Sa rồi cả Tây sa. Năm Tuyên Thống thứ nhất, phó thủy sư đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 2 quân hạm Phục Ba, Thấm Hàng, xuất phát từ  cảng Du Lâm đã qua 14 đảo  Tây sa, đảo nào cũng đặt tên, khắc đá, cắm cờ, bắn pháo, công bố trong ngoài đã tốn phí hơn 40 vạn lạng quốc tệ, có 1 quyển sách ghi chép về tuần biển, đồng thời có đo đạc, vẽ bản đồ còn cất giữ. Nếu quần  đảo này thuộc về nước Pháp, tại sao bấy giờ chưa nghe thấy có sự phản đối.

-         Hai là năm Tuyên Thống thứ 1, tổng đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn kiến nghị mở mang quần đảo Tây sa, sai người điều tra, lấy phân chim và phân bón san hô do đảo sản xuất và quặng lân Đông Sa đem trưng bày ở Nam Dương,  Nam Kinh.

-         Ba là đầu thời Dân Quốc, thương nhân kinh doanh phân chim quần đảo Tây Sa, qua sự phê chuẩn của nhà đương cục Quảng Đông trước sau 5 lần…

-         Bốn là trường Đại Học Trung Sơn cùng cơ quan Thiên Hậu khu Nam Quảng Đông ra điều tra về mỏ lân  ở Tây Sa.

-         Năm là Tư lệnh hải quân Pháp ở Sàigòn đã trả lời cho Công ty thực phẩm Nam Hương của Nhật Bản ngày 20 tháng 9 năm 1920 yêu cầu cho biết Tây Sa có phải lãnh địa của nước Pháp không? Viên sĩ quan này đã trả lời rằng “Hồ sơ lưu trữ của hải quân Pháp tuyệt không có tài liệu liên quan đến quần đảo Tây Sa”.

Đến năm Dân Quốc thứ 27, Pháp thông báo cho Anh biết việc chiếm Tây Sa, lấy lý do cũng chỉ vì Nhật chiếm đảo Hải Nam uy hiếp An Nam mà chiếm chứ không phải là vì chủ quyền của quần đảo này.

-         Sáu là căn cứ vào kiến nghị của đài trưởng đài quan sát khí tượng An Nam.

-         Bảy là người Trung Quốc thời Tống, Nguyên đã phát hiện Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, căn cứ vào sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ  Thích (Quát) đời Nam Tống có chép rằng “Năm Trinh Nguyên thứ 5, lấy Quỳnh Châu làm đốc phủ. Đến Cát Dương là nơi cùng cực của biển quên về theo đường bộ, bên ngoài có chăng gọi là Ô Lý, là Tô Cát Lãng, phía đối diện với Chiêm Thành, Tây nhìn sang Chân Lạp, Đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường xa rộng, mờ mịt, không bờ bến, trời nước một mầu”.

“Thuyền bè qua lại chỉ lấy kim chỉ nam làm chuẩn, ngày đêm coi giữ cẩn thận, mảy may sai lại quan hệ đến sống chết”.

Sau đó, Trung Quốc còn viện dẫn  lời  Uông Đại Uyên đời Nguyên  trong sách “Đảo Di Chí Lược” (phụ lục 3.24 )viết: “Trên sợ Thất Châu, dưới sợ Côn Lôn” (Thượng phạ Thất Châu, Hạ phạ Côn Lôn) và việc Trịnh Hoà bảy lần xuống Tây Dương, thế tất phải  qua quần đảo Tây Sa cũng như việc ông Phí Tín, Mã Hoan viết lộ trình từ Phúc Kiến đi về hướng Tây Nam đến Chiêm Thành xuôi gió 10 ngày, thì hẳn phải qua Tây Sa. Trung Quốc còn viện dẫn phát hiện đồng tiền Vĩnh Lạc Thông Bảo ở Tây Sa năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 9.

Cũng từ đó các viên chức ngoại giao Trung Quốc luôn khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc  đối với Tây Sa là không thể tranh cãi được.

Hầu hết các luận điểm trên đến nay không còn giá trị và chính Trung Quốc không còn nhắc tới nữa, bởi những bằng chứng về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam không thể chối cãi là những phản bác hùng hồn tất cả những luận điểm trên của Trung Quốc. Trung Quốc có kể hàng trăm hành động từ năm 1909 thì cũng vô ích vì đó chỉ là những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Không thể vì việc lên tiếng phản đối chậm trễ của Pháp như đã trình bày trên theo luật pháp quốc tế thời bấy giờ, mà Việt Nam mất chủ quyền.

Còn việc hỏi Tư Lệnh Hải quân Pháp ở Sài gòn thì đúng là đã không hỏi đúng địa chỉ, nếu hỏi viên Khâm Sứ Pháp ở Trung Kỳ như Khâm Sứ LeFol hay hỏi Nam Triều về chủ quyền Hoàng Sa thì chắc chắn sẽ có câu trả lời rõ ràng, xác thực như lời khẳng định “chủ quyền của Việt Nam không có gì để tranh cãi ở Hoàng Sa” của thượng thư Thân Trọng Huề vào năm 1925.

Đến khi Cách Mạng Trung Quốc thành công năm 1949, tài liệu đầu tiên của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đưa ra những luận điểm về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bài báo nhan đề “Notes on the Namwei and Sisha Islands” (không ký tên)  đăng trong bán nguyệt san “People’s China” (Nhân Dân Trung Quốc) do nhà xuất bản Ngoại Văn (Foreign Language Press) xuất bản tại Bắc Kinh ngày 1-9-1951.

Như thế,so với trước năm 1949, Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm hơn đến luận điểm  cho rằng chủ quyền về Hoàng Sa của Trung Quốc đã có từ lâu đời, với nhiều luận cứ, luận chứng, còn công việc “chiếm hữu theo cung cách Phương Tây” như cắm cờ, bắn 21 phát súng đại bác vào năm 1909 chỉ là thứ yếu. Như thế Trung Quốc cơ bản đã thay đổi luận điểm, thay vì cho rằng vào thời điểm năm 1909, quần đảo Tây Sa là vô chủ và Trung Quốc đã có “hành động chiếm hữu”, nay lại cho rằng quần đảo Tây Sa đã thuộc về Trung Quốc từ lâu đời.

Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp pháp  cưỡng chiếm Hoàng Sa vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì  xuyên tạc với sự đóng góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh nhật báo, 24 tháng 11 năm 1975).

Sau đó như đã nói trên, ngày 30 tháng 1 năm 1980, Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa  đã công bố văn kiện ngoại giao, chính thức hoá những luận điểm đã đưa ra trong bài báo nói trên và năm 1988, đã xuất bản bộ tư liệu đồ sộ của Nhóm Hàn Chấn Hoa như đã nêu trên đây.

Nói gì thì nói, cho dù Trung Quốc  tìm kiếm được bằng chứng phát hiện  thật sớm hơn đời Hán, chứ không phải chỉ  đời Tống như hồi ban đầu, thì người Hán cũng chỉ vượt qua sông Dương Tử xuống đất Bách Việt, rồi tới Hải Nam và Biển Đông rất chậm sau những cư dân bản địa, Bách Việt trong đó có Lạc Việt hay người Lê ở Hải Nam cũng có ở Thanh Hoá Việt Nam và cũng phải đến sau những cư dân dọc miền Trung Việt Nam trong đó có người Chăm, một thành phần của cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay. Người Chăm lại là những người rất giỏi đi biển. Các vua Chămpa đã nhiều lần đi biển và có vua đã bị chết trên Biển Đông. Đó là chưa kể hầu hết những  tài liệu Trung Quốc dẫn chứng đều là sách viết về nước ngoài  “chư phiên”, tức không phải chép việc của Trung Quốc như “Nam Châu Dị Vật Chí” (phụ lục 3.25) của Dương Phù, “Chư Phiên chí” (phụ lục 3.26 ) của Triệu Nhữ Quát .

Vả lại với cơ sở pháp lý  quốc tế từ đầu thế kỷ  XX đến nay, việc chiếm hữu thật sự, hoà bình cùng sự thực thi  liên tục mới có giá trị, nên điều đáng quan tâm  trong các luận điểm mới của Trung Quốc là những bằng chứng giả tạo về sự quản hạt sớm nhất của Trung Quốc được ghi trong các tài liệu nghiên cứu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng như trong tản mát các tài liệu khác cũng như trong văn kiện ngoại giao sách trắng năm 1980 của Trung Quốc.

Trung Quốc đã cố gắng tìm ra địa danh có trong lịch sử  Trung Quốc để cố gán ghép cho  quần đảo Tây Sa như Cửu Nhũ Loa Châu, vốn là  một hòn đảo ven biển Trung Quốc. Vả lại ngay  như tài liệu Trung Quốc viện dẫn, chính Cửu Nhũ Loa Châu lại ở phía Đông của Nhai Châu của đảo Hải Nam như tấm bản đồ Quảng Đông Dương Đồ trong sách Dương Phòng Tập Yếu hoặc Thất Châu Dương chép trong một số sách như Tuyền Châu Phủ Chí (đời Thanh) hoặc trong sách Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu, vốn chỉ cách huyện Văn Xương của Hải Nam  về phía Đông 100 dặm. Trong khi đó, phía Đông của đảo Hải Nam lại không  phải là quần đảo Tây Sa.

Để minh chứng cho sự xác lập chủ quyền của mình ở Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc lại cũng đưa ra những luận điểm được coi là vững mạnh “nhất” như sau:

·        Một là Trung Quốc khẳng định các đảo Nam Hải đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc từ năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường năm 789.

Đúng sử sách Trung Quốc như sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát có chép những thay đổi về qui chế hành chính từ đời Hán đến đời Tống, trong đó có việc Quỳnh Sơn, một quận của  đảo Hải Nam thời đó ( xin nhấn mạnh) (nay  thuộc thành phố Hải Khẩu)  được đặt thành “phủ đô đốc” vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường tức năm 789.

Nhưng qua các sáchĐường Thư, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Dư Địa Kỷ Thăng (1221), Quảng Đông Thông Chí (1842) thì vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên  đời Đường tại đảo Hải nam, chỉ thấy có chuyện kể viên đô đốc nhà Đường là Lý Phục mang quân sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản địa nổi dậy làm chủ đảo và xin vua Đường đặt phủ đô đốc ở quận Quỳnh Sơn, không hề có chuyện “sáp nhập bất kỳ đảo ở biển Nam Trung Hoa vào đảo Hải Nam”. [ 58 ]          

·        Hai là việc Trung Quốc phái thủy quân đi “tuần tiễu”, Trung Quốc đã viện dẫn các sự kiện để chứng minh.

Đó là việc triều đình Bắc Tống “đặt định thủy quân tuần tiễu” ở Quảng Châu, chép trong Vũ Kinh Tổng Yếu của Tăng Công Lượng đời Tống (960-1279, việc viên tướng nhà Nguyên đi qua “Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường” trên đường đi đánh Java năm 1293 , chép trong Nguyên Sưû, hay việc chính quyền Quảng Đông phái binh thuyền ra biển phòng ngự, chép trong Quảng Đông Thông Chí của Vương Tá, đời Minh (1368-1644); việc viên phó tướng Quảng Đông Ngô Thăng đi tuần từ Quỳnh Nhai đến Tứ Canh Sa khoảng năm 1700-1712, chép trong Tuyền Châu Phủ Chí của Hoàng Nhiệm, đời Thanh (1616-1911).

Trước hết về luận cứ "phái thủy quân tuần tiễu cương giới biển", luận chứng của

Nhóm Hàn Chấn Hoa chỉ dựa vào một đoạn trong sách Vũ Kinh Tổng Yếu, với nội dung như sau:

"Quận Nam Hải thuộc Quảng Châu là đất Bách Việt xưa đều là nơi người Man, người Đản cư trú. Từ đời Hán về sau đặt thành quận huyện. Đời Đường đặt làm Thanh Hải quân tiết độ. Bản Triều dẹp Lưu Xương, lại đặt phương trấn, làm một nơi  đô hội, nắm binh giáp, giặc giã mười sáu châu, người Phiên, người Hán ở lẫn lộn.

Sai quân nhà vua ra trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển Đông và Tây, rộng 280 trượng cách đồn Môn Sơn 200 dặm. Đóng tàu chiến kiểu đao ngư. Nơi đó (nơi đặt dinh lũy thủy quân) phía Đông Nam đến biển cả 40 dặm, phía Đông đến Huệ Châu 420 dặm, phía Tây đến Đoan Châu 240 dặm, phía Nam đến An Châu 750 dặm, phía Bắc đến Thiều Châu 250 dặm. Đường biển về phía Đông Nam 400 dặm. Đến đồn Môn Sơn 20 dặm, ngày có thể đi 50 dặm, cộng là 200 dặm…

Từ Đồn Môn Sơn dùng gió Đông đi về phía Tây Nam bảy ngày đến Cửu Nhũ Loa Châu, ba ngày nữa đến Bất Lao Sơn (thuộc địa giới nước Hoàn Châu - nguyên chú thích của tác giả), lại đi ba ngày nữa về phía Nam đến phía Đông Lăng Sơn (có nước ngọt - nguyên chú thích của tác giả) . Đi nữa về phía Tây Nam là các nước Đại Thực, Phật Sư Tử, Thiên Trúc không tính được hành trình" [58 ]

Những đoạn văn này hoàn toàn không chứng minh được lập luận "Trung Quốc phái thủy quân tuần tiễu quần đảo Tây Sa  bắt đầu đời Tống”.

Trước hết nhóm Hàn Chấn Hoa đã cố gán ghép hai đoạn văn vào với nhau gồm đoạn văn nói về lộ trình "Từ đồn Môn Sơn đến các nước Đại Thực, Phật Sư Tử, Thiên Trúc tiếp liền vào đoạn văn đầu viết về  "đặt dinh lũy thủy quân tuần tiễu ở hai cửa biển Đông và Tây" . Điều này không đúng với nguyên bản         Vũ Kinh Tổng Yếu [  58  ]. Đây chỉ là sự cố gán ghép "đầu Ngô mình Sở" để cố minh chứng việc tuần tiễu thủy quân đời Tống qua đất "Cửu Nhũ Loa Châu" mà nhóm này cho là Tây Sa. Song ngay địa danh Cửu Nhũ Loa Châu cũng không có bằng chứng nào chắc chắn là Tây Sa, trong khi có nhiều bằng chứng như đã trình bày chỉ là nhóm hòn đảo ven bờ biển Trung Quốc.  Vả lại, không chỉ có Cửu Nhũ Loa Châu mà còn có những nơi  khác cũng được đề cập trong lộ trình đến các nước Đại Thực, Thiên Trúc… chẳng lẽ lại cũng thuộc về lãnh thổ Trung Quốc hay sao? Đây là điều thật phi lý.

Về sự kiện tướng nhà Nguyên đi đánh Java năm 1293 thì khỏi phải bàn vì đây rõ ràng là cuộc xâm lược! Vả lại cũng thật hồ đồ, sao có thể chắc chắn đoàn quân xâm lược ấy lại phải đi qua Tây Sa, Nam Sa! Biển Đông vốn rộng mênh mông!

Về việc chính quyền Quảng Đông đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự, nhóm Hàn Chấn Hoa dẫn sách Quảng Đông Thông Chí của Hoàng Tá đời Minh có đoạn viết rằng :"Đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự …  Từ cửa Nam Đình,(thuộc  huyện Đông Hoàn) ra khơi  đến ba biển Ô Chư, Độc Chư, Thất Châu lấy kim la bàn (hướng) Khôn Mùi đến Ngoại La” . Để từ đó nói rằng từ đời Minh, Thanh trở đi, vùng biển quần đảo Tây Sa, Nam Sa vẫn được đặt vào phạm vi tuần tiễu của thủy quân (Trung Quốc) [   58  ]

Xem đoạn văn trích dẫn trên, người ta thấy nội dung tới từ hai sách khác nhau.

Trong Quảng Đông thông chí, người ta chỉ thấy một đoạn như sau :"Cướp biển có ba đường, đặt quân quan chống Ủûy (Nhật Bản) để phòng thủ, cuối Xuân đầu Hạ, khi gió thổi đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự. Đường giữa từ Nam đầu Thành, huyện Đông Hoàn, ra cửa Phật Đường, cửa Chữ Thập, Lãnh Thủy Giác, các vùng biển" [ 58  ]. Tác giả chép việc tuần phòng vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Đông để chống nạn cướp biển Nhật Bản.

 Còn trong Hải Ngữ  của Hoàng Trung (1563) thì chép:

"Nước Xiêm La ở trong Biển Nam. Từ cửa Nam Đình (thuộc huyện) Đông Hoàn ra khơi, đi về phía nam đến Ô Chư, Độc Chư, Thất Châu (chú giải của tác giả : tên ba biển), kim la bàn (hướng) Khôn - Mùi đến Ngoại La (Cù Lao Ré), kim Khôn-Thân, 45 trình đến cảng cũ Chiêm Thành (Qui Nhơn ngày nay), qua Đại Phật Linh Sơn (Mũi Đại Lãnh), trên có đài đốt lửa là thuộc Giao Chỉ, kim Mùi đến Côn Lôn Sơn (Côn Đảo ngày nay), lại kim Khôn-Mùi đến Đồi Mồi Châu, đồi mồi ở Qui Sơn, kim Dậu vào cảng Xiêm La"[58] .  Tác giả chép đường biển từ cửa Nam Đình (cửa sông Châu Giang) đến Xiêm La, tức Thái Lan ngày nay. Như thế, các tác giả Bộ sưu tập  đã cắt xén và ghép lời văn của hai tác phẩm khác nhau   trên đây  thành  lời  văn  của  Quảng  Đông  thông chí  theo dụng ý   của   mình :  Bằng cách gán ghép câu chữ như thế, bản thân tài liệu đã mất đi giá trị chưa nói gì   đến cái gọi là bằng chứng chứng minh chủ quyền. [58]

Qua ghi chép ở hai cuốn sách trên,thấy rõ cuộc tuần tra biển của thủy quân Trung Quốc lúc đó chỉ là "phòng ngự" nhằm chống cướp biển đến từ nước Nhật (Uûy)  mà thôi, không hề có chuyện tuần tiễu quần đảo Tây Sa, Nam Sa. 

Còn việc tuần tiễu của Ngô Thăng, trước hết tìm hiểu vị trí các địa danh trên chúng ta được biết Quỳnh Nhai là thủ phủ Quỳnh Châu ở phía Bắc đảo Hải Nam, Đồng Cổ là quả núi cao  339m ở phía Đông Bắc đảo Hải Nam, Thất Châu Dương là phía Đông đảo Hải Nam, Tư Canh Sa là bãi cát phía Tây đảo Hải Nam.  Đây chỉ là cuộc tuần tiễu của Ngô Thăng  quanh đảo Hải Nam, chứ không đến Tây Sa nên nhớ rằng  Thất Châu Dương  ở phía Đông đảo Hải Nam nên không hề là Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, vốn cách Hải Nam hơn 350 hải lý   về phía Đông Nam . [  58  ]

·        Ba là việc đo đạc thiên văn của Quách Thủ Kính năm 1279. “Nguyên Sử” chỉ chép rằng "Quách Thủ Kính tiến hành đo đạc thiên văn " bốn biển" năm 1279 theo lệnh của vua Nguyên (quyển 48, tờ 7a -7b) để tìm hiểu vận động của vũ trụ (mặt trời, mặt trăng, các vì sao) để làm lịch mới (quyển 164, tờ 4b - 5a) và tiến hành đo đạc ở 27 nơi trong đó có cả Cao Ly, Thiết Lặc ( thuộc Sibia), Bắc Hải  và Nam Hải. Ở Nam Hải, Quách Thủ Kính đo ở 15 0 Bắc cực (tương đương với vĩ độ  14 047 B [58]

Chúng tôi cũng xin dẫn thêm các chính sử  của Việt Nam như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã trích  thiên Nghiêu Điển trong Kinh Thư mà Khổng Tử đã san định, chép rằng: “Vua Nghiêu lại sai Hy Thúc đến ở Nam Giao (Giao Chỉ tại phương Nam), sắp đặt việc làm ruộng theo thời tiết ở phương Nam, kính cẩn ghi bóng mặt trời ngày hạ chí là ngày dài nhất và xem sao Đại Hoả ở phương Nam để định cho đúng tiết trọng hạ, lúc đó dân cư tản mác." (Quốc Sử Quán nhà Nguyễn ( bài dịch), Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tiền biên, quyển nhất, Sài gòn, Bộ Văn Hoá Giáo Dục, 1965, tr 27)

Sự kiện trên đây nếu theo cách lý luận của các nhà nghiên cứu Trung Quốc chẳng lẽ lại giúp cho Trung Quốc khẳng định cương vực Trung Quốc đã bao gồm cả  đất Giao Chỉ tự đời Đường Nghiêu (bao gồm cả Tây Sa) chứ không phải chỉ sau này đời Tần, đời Hán! Vì thế, việc đo đạc thiên văn không thể lấy làm cơ sở để xác lập chủ quyền. Điều quan trọng là nhiều tài liệu, trong đó các bản đồ của Trung Quốc xuất bản trước năm 1909 đều xác định cực Nam của Trung Quốc ở đảo Hải Nam ( xem các tài liệu dẫn ở dưới đây).

·        Bốn  là các đảo Nam Hải đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc. Các tác giả bộ sưu tập do Hàn Chấn Hoa chủ biên cũng rất công phu đưa ra 13 bản đồ và chia làm hai loại. Một loại là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh có vẽ các đảo Nam Hải. Một loại khác là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh và các nước Phiên  thuộc, cũng có vẽ các đảo Nam Hải.

Nghiên cứu kỹ các bản đồ mà Trung Quốc viện dẫn, người ta thấy ngay các bản đồ  loại 1 trên tức bản đồ Trung Quốc đời Nguyên, Minh, Thanh  có vẽ các hải đảo như bản đồ  Trực tỉnh hải dương tổng đồ trong  Dương Phòng Tập Yếu  không những có tên Vạn lý Trường Sa , lại còn vẽ các địa danh khác như Tiểu Lưu Cầu, Đại Lưu Cầu (nay là quần đảo Ryu – Kyu của Nhật), Đối Mã (đảo Tsuma của Nhật) …Chẳng lẽ những đảo trên của Nhật Bản có trên bản đồ Trực Tỉnh Hải Dương Tổng Đồ cũng thuộc lãnh thổ Trung Quốc như Vạn lý Trường Sa mà Trung Quốc đã gán ghép hay sao? Hoặc như bản đồ Quảng Đông Dương Đồ cũng trong Dương Phòng Tập Yếu cũng ghi tên Cửu Nhũ Loa Châu của hình núi cao  (3 chóp non) và nằm cạnh Lê Đầu Sơn, Nam Bành, hai địa danh này người ta lại thấy trên bản đồ phòng thủ biển trong Quảng Đông Thống Chí Ngũ Nguyên ( 1822) chính lại là tên những đảo ven bờ. Cửu Nhũ Loa Châu chính lại  là địa danh của hòn đảo gần bờ biển Trung Quốc, không phải là tên  quần đảo Tây Sa Trung Quốc mới đặt sau năm 1907.

Đối với loại bản đồ thứ hai là "loại bản đồ Trung Quốc đời Minh Thanh và các nước phiên thuộc" lại càng khó chứng minh bằng bản đồ, đảo nào thuộc Trung Quốc !

Trong khi ấy tất cả những loại bản đồ cũng như các sách địa dư do nhà nước biên soạn từ đời Tống (960 – 1279) đến đời Thanh (1616 – 1911) lại không hề vẽ và ghi các đảo ở biển Nam Hải. Ngược lại có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ  Đại Thanh Đế Quốc  trong  Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không  vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở Biển Đông và bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ  trong cuốn  HoàngThanh Nhất Thống dư địa toàn đồ  xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18độ 30phút Bắc, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc  đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17độ 5phút. Ngoài ra còn rất nhiều bản đồ của Trung Quốc  khác, vẽ trước năm 1909 đều xác định điểm cực Nam Trung Quốc là đảo Nam Hải. (Xem các bản đồ của Trung Quốc trong phần hình ảnh) . Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa  chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc.

·        Năm là vào năm 1883, người Đức tiến hành điều tra quần đảo Tây Sa. Chính phủ Trung Quốc kháng nghị, người Đức  đã ngừng công việc này.

 Đây là luận điểm cũng rất tiêu  biểu về sự mơ hồ của Trung Quốc, chẳng có bằng chứng cụ thể về sự kiện này cả. Trong khi có rất nhiều bằng chứng cho biết việc người Đức điều tra đo đạc từ năm 1881 đến 1884 ở hấu hết các vùng biển từ Hải Nam đến Bắc Hải, Vi Châu đến tận Hạ Môn, Phúc Châu không có gì trở ngại, có kết quả tốt mà Sở Thủy đạc hải quân (Pháp) đã sử dụng vẽ bản đồ Mer de Chine  Méridionale - Archipel des Paracels, xuất bản năm 1885, mang mã số 4104, ghi rất rõ là"d'après les levés Allemands" (1881-1883) .

Trên đây là những luận cứ, luận chứng được “coi mạnh nhất” của Trung Quốc để dẫn chứng cho việc xác lập chủ quyền của  Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Không cần nói nhiều đến những luận cứ rất yếu như chính quyền địa phương Trung Quốc đã cứu giúp tàu thuyền nước ngoài lâm nạn, viện dẫn 2 vụ việc thuyền nước ngoài bị đắm ở Cửu Châu Dương (thuộc Vạn Châu) và ở Thất Châu Dương xảy ra vào đời Càn Long thứ 20 (1755) và năm thứ 29 (1762), chính phủ nhà Thanh lệnh cho quan chức địa phương chu cấp cho người sống sót về nước. Những vụ đắm tàu lâm nạn trên cũng được chép cách sau rất lâu vụ đắm tàu của những người lính Hoàng Sa được chúa Nguyễn sai đi làm  nhiệm vụ của đội Hoàng Sa, chẳng may gặp bão dạt vào cảng Thanh Lan được chính quyền Quỳnh Nhai thuộc đảo Hải Nam tra xét đúng sự thực đã chu cấp tử tế và đã được chúa Nguyễn Phúc Khoát viết thư cám ơn (như Phủ Biên Tạp Lục  của Lê Qúi Đôn và Đại Nam Thực Lục Tiền Biên  ghi rất rõ).

·        Đối với Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam)

Khác với quần đảo Hoàng Sa hiện chỉ có Trung Quốc xâm phạm,  chủ quyền quần đảo  Trường Sa hiện có nhiều nước xâm phạm: Trung Quốc (gồm cả Đài Loan), Philippines, Malaysia, Brunei . Sự xâm phạm của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa thật sự xảy ra chậm hơn, chỉ bắt đầu từ chiến tranh thế giới thứ 2 mà lại sau cả Nhật Bản. Nước này, vì nhu cầu chiến tranh cần chiếm các vị trí quân sự chiến lược  để kiểm soát Biển Đông. Vào năm 1939, Nhật chiếm đảo lớn nhất  Itu Aba mà Việt Nam gọi là Ba Bình, song tại Hội nghị San Francisco năm 1951, Nhật đã từ bỏ sự tranh chấp này.

Hiện Đài Loan đã chiếm đảo lớn nhất Ba Bình (Itu Aba), còn Trung Quốc chỉ mới chiếm bằng vũ lực gồm 9 đá  ngầm từ năm 1988 , Philippines chiếm 9 đảo và đá ngầm (4 đảo) ở phía Đông quần đảo; Malaysia chiếm 5 đá ngầm ở phía Nam. Brunei đòi chủ quyền vùng biển sát họ. Indonésia và Việt Nam đã đàm phán nhiều lần về phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế theo Công Ước Biển 1982. Indonésia không có một tham vọng nào về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong khi đó Việt Nam đang trấn giữ 22 đảo, bãi đá ngầm (6 đảo)  (Xem các bản đồ tình hình tranh chấp hình số (3.57), (3.58), (3.59), (3.60), (3.61), (3.62) và danh sách các đảo bị chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa ).

Vào năm 1909, Trung Quốc chỉ mới đặt vấn đề và có hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Tây Sa tức Hoàng Sa, chưa đề cập đến Nam Sa tức Trường Sa của Việt Nam. Từ năm 1935, để phản ứng hành động của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam, Trung Quốc mới bắt đầu dịch hết các tên hải đảo ở Biển Đông và gọi Nam Sa là quần đảo Macclessfield. Đến năm 1947, Trung Quốc mới gọi Nam Sa để chỉ Trường Sa của Việt Nam tức quần đảo Spratley.

Như thế, từ thập niên 30 đến 70, ban đầu Trung Quốc chỉ đưa ra luận điểm “Nam Sa  thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ lâu đời bất khả tranh nghị”, sau đo,ù cũng như quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc mới đưa ra luận điểm “Trung Quốc là nước phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất” và “quản hạt sớm nhất”! Thời gian thì lại bất nhất. Khi thì vào đời Tống, khi thì vào đời Hán.

 Từ thập kỷ 80 trở đi, trong văn kiện Bộ Ngoại Giao ngày 30-1-1980, cũng như trong Bộ Tư Liệu của Nhóm Hàn Chấn Hoa, Trung Quốc bắt đầu đưa những tài liệu lịch sử để minh chứng những luận điểm, luận cứ của họ.

Văn kiện ngoại giao ngày 30-1-1980  đã dẫn cuốn "Nam Châu Dị Vật Chí" của Vạn Chấn và cuốn "Phù Nam truyện" của Khang Thái đời Tam Quốc.

Nghiên cứu nội dung của Nam Châu Dị Vật Chí  của Vạn Chấn và Phù Nam truyện của Khang Thái đời Tam quốc, chúng ta không thấy có bằng chứng nào về sự phát hiện quần đảo Nam Sa cũng như Tây Sa.  [ 58  ]

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc như nhóm Hàn Chấn Hoa đã tìm kiếm trong sách sử những địa danh như Từ Thạch, Trường Thạch, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, Trường Sa, Thạch Đường, … là những đảo san hô hay cát ven biển hoặc vùng biển ven bờ để chú giải, gán ghép cho Nam Sa mà chính địa danh Nam Sa này cũng chỉ mới đặt ra và lại di chuyển như đã nêu trên, từ đảo Macclesfield (năm 1935) đến vùng Spratly  (năm 1947),  một khoảng cách xa hơn 500 cây số  về phía Nam. Sự tùy tiện gán ghép của các nhà nghiên cứu Trung Quốc được thể hiện rất rõ khi thì Vạn Lý Thạch Đường chỉ Tây Sa, Trung Sa, lúc thì chỉ Nam Sa.

Văn kiện ngoại giao ngày 30-1-1980 còn dẫn các sách “Mộng Lương Lục” đời Tống, “Đảo Di Chí Lược” đời Nguyên, “Đông Tây Dương Khảo” và “Thuận Phong Tương Tống” đời Minh, “Chỉ Nam Chinh Pháp” và “Hải Quốc Văn Kiến Lục” đời Thanh, cho rằng những sách đó không những đã lần lượt đặt cho 2 quần đảo Tây Sa và Nam Sa những tên “Cửu Nhũ Loa Châu”, “Thạch Đường”, “Thiên Lý Thạch Đường”, “Vạn Lý Thạch Đường”, “Trường Sa”, “Thiên Lý Trường Sa”, “Vạn Lý Trường Sa” v.v… mà còn đặt cho các đảo đá ngầm và  bãi cát thuộc 2 quần đảo này nhiều tên gọi hình tượng linh động …

Chúng ta thử lật từng trang các sách dẫn trên hoặc coi những đoạn trích mà các nhà nghiên cứu như nhóm Hàn Chấn Hoa đã dẫn ra để chứng minh cho chủ quyền của Trung Quốc. Sách Mộng Lương Lục của Ngô Tự Thu viết năm 1275 không viết gì  ngoài việc đề cập đến địa danh Thất Châu và Thất Châu Dương Côn Lôn, trong một đoạn văn như sau : “Nếu dùng thuyền đi vòng ra nước ngoài buôn bán, thì ra biển từ Tuyền Châu, đi liên tiếp qua Thất Châu Dương, ở thuyền dò nước sâu hơn 70 trượng… Từ xưa người đi thuyền đã nói : “Đi  sợ Thất Châu, về  sợ Côn Lôn” cũng sâu hơn 50 trượng. Nếu người buôn chỉ đến Đài Ôn, Tuyền Phúc buôn bán, không phải qua biển lớn Thất Châu Dương  và Côn Lôn. Nếu có ra biển tất phải từ cảng Tuyền Châu, đến cửa Đại Dũ mới có thể ra biển đi rộng ra nước ngoài.” Thế mà nhóm biên tập Hàn Chấn Hoa ghi chú rằng Thất Châu ở đây là quần đảo Nam Sa, còn Thất Châu Dương chỉ vùng biển một dải quần đảo Tây Sa và hàm ý minh chứng chủ quyền thuộc Trung Quốc. [ 58 ].

Sách Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên đời Nguyên cũng chỉ đề cập đến Côn Lôn, Thạch Đường, Vạn Lý Thạch Đường và cho  rằng “ngày xưa núi Côn Lôn còn gọi là quần đồn sơn. Núi cao mà vuông, bệ chân núi mấy trăm dặm rành rành giữa biển cả đứng thành thế chân vạc với Chiêm Thành và núi Tây Trúc, dưới có biển Côn Lôn, nhân đó mà có tên ấy. Thuyền buôn đi Tây Dương phải qua (biển đó) cho nhanh, thuận gió thì 7 ngày đêm có thể vượt qua được. Ngạn ngữ nói “Trên có Thất Châu, dưới có Côn Lôn”. Sách Đảo Di Chí Lược còn chép rằng vỉa đá (xương) Thạch Đường sinh ra  từ Thiều Châu  liên tiếp như con rắn dài, nằm ngang kéo dài trong biển. Các nước vượt biển có câu: “Vạn Lý Thạch Đường – Thuyền từ cửa Đại Dũ treo 4 buồm, cưỡi gió rẽ sóng trên biển như bay đến Tây Dương, có thể mất hơn 100 ngày, lấy số dặm đi được trong một  ngày đêm mà tính thì vạn dặm cũng chưa đủ. Một mạch đến Qua Da (30), một mạch đến Bột Nê (31) đến Cổ Lý (địa muộn), một mạch đến đất Côn Lôn xa xôi của Tây Dương cho nên Tử Dương Chu Tử nói rằng đất hải ngoại cùng mạch đất Trung Nguyên liên tiếp nhau có phải thế không? Xem biển cả mênh mông không bờ bến, trong ẩn dấu  Thạch Đường, ai mà rõ được? [   58  ]

Thế mà nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú núi Côn Lôn là quần đảo Nam Sa và biển Côn Lôn cũng chỉ quần đảo Nam Sa và hàm ý minh chứng chủ quyền thuộc Trung Quốc!.

Nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú rằng “Đăng Điền Phong Bát cho rằng Vạn Lý Thạch Đường là quần đảo Trung Sa. Chúng tôi (nhóm Hàn Chấn Hoa) cho rằng: “Thạch Đường đã phân bố tại các khu vực từ Triều Châu đến Java đến Bột Nê (Calimanlan), Cổ Lý địa muôn (đảo Đế Uẩn) và Côn Lôn. Như vậy Vạn Lý Thạch Đường rõ ràng bao gồm các đảo Nam Hải trong đó có các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa”. [  48  ]

Đông Tây Dương Khảo của Chương Tiếp (đời Minh)  quyển 9, Châu Sư Khảo, Tây Dương Châm Lộ, bản có lời tựa  năêm Mậu Ngọ Vạn Lịch đời Minh (1618)  cũng vậy, có đoạn chép rõ vị trí của Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường như sau: “Ở Chư Sơn … dùng kim la bàn đến thành Tây Nam, đến khoảng 

13 canh đến Thất Châu Sơn, Thất Châu Dương (Quỳnh Châu)",và chỉ nói rằng :

"Trong biển phía Đông huyện Văn Xương 100 hải lý có núi, nhô liền 7 ngọn, trong có suối, nước ngọt ăn được là nơi quân của Lưu Thân nhà Nguyên đánh đuổi Tống Đoạn Tông bắt được người thân của vua Tống là Du Diên Khuê".

“Tục truyền xưa đây là  Thất Châu, chìm xuống thành biển, thuyền qua dùng sinh (Lòng trâu hoặc dê), cháo tế vua đi tuần biển nếu không hung thần làm ác, thuyền qua đó rất nguy hiểm. Hơi lấn sang phía Đông là Vạn Lý Thạch Đường tức là cái mà Quỳnh Chi gọi là Thạch Đường Hải. Thuyền phạm vào Thạch Đường , ít cái thoát được.  Thất Châu Dương  đo độ sâu nước 130 sải".

“… Thuyền đến  Thất Châu Dương và Ngoại La gặp mấy ngày này cần nhắc thân thuyền, không được lệch về Tây, Tây không có nước, cần trệch về phía Đông. Phàm đi thuyền, phải xem nước phía Tây sắc xanh, thấy nhiều “bãi lãng ngư” (là lạng sóng), lấn về Đông tất mầu nước đen; mầu xanh, có cây gỗ mục trôi và chim vịt kêu, tiếng như chim trắng đuôi mang đen ấy là hướng đúng (chính chân). Nếu ngại vào mà cho thuyền  chạy lệch  về phía Đông, chạy trong 7 canh là Vạn Lý Thạch Đường  trong có 1  núi đá đỏ không cao. Nếu thân thuyền cạn lại thấy đá phải đề phòng cẩn thận!”[ 48  ].

Đến đây, nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú Thất Châu Dương là Tây Sa, Thất Châu, Vạn Lý Thạch Đường …  chỉ chung các đảo Nam Hải.

Sách Thuận Phong Tương Tống chép: “Ngày xưa các bậc tiên hiền Thượng Cổ đi trên biển, đều sử dụng phổ biến la bàn 24 vị  (ngôi). Đường chính đi Thất Châu Dương  trên không rời Cấn (Đông Bắc đến Đông) dưới không rời Khôn (Tây Nam đến Tây)”[ 58 ].

Hải Đạo Chân Kinh là hợp biên 2 sách Thuận Phong Tương TốngChỉ Nam Chính Pháp (cuối Khang Hy nhà Thanh) có đoạn chép: “Thất Châu Dương nước sâu 120 thác (sải tay). Khi đi và khi về, tế cô (những cô hồn) bằng tam sinh (lợn, trâu, dê) rượu ngọt, cháo. Thuyềân lấn sang Đông chim nhiều, lấn sang Tây cá nhiều" [ 58  ].

“Giao Chỉ Dương thấp phía Tây, có đảo cỏ, nước chảy xiết, có lau sậy nhiều củi, các cá bay, lấn sangTây có bái phong ngư. Đo độ sâu của nước được 45 sải. Lấn sang phía Đông đi thuyền 7 canh có Vạn Lý Thạch Đường” [ 58  ].

Sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh  cũng chép vị trí của Vạn Lý Trường Sa: "Phía Nam ngấn cát nối tiếp đến Việt Hải là Vạn Lý Trường Sa. Phía nam cách một biển gọi là Trường Sa Môn. Lại từ đầu phía nam cũng sinh ngấn cát đến Vạn Châu ở Quỳnh Hải gọi là Vạn Lý Trường Sa. Phía nam bãi cát ấy lại mọc đá rạng đến biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Trường Sa Môn ấy với Nam Aùo ở phía tây bắc và với đảo Đại Tinh ở Bình Hải đứng đối nhau như ba chân vạc. Trường Sa Môn từ nam đến bắc rộng ước 5 canh đường. Những thuyền Phiên, tàu Tây qua lại với các nước Nam Dương, Lữ Tông, Văn Lai, Tô Lộc đều do Trường Sa Môn mà ra. Gió bấc thì lấy Nam Aùo làm chuẩn, gió nồm thì lấy Đại Tinh làm chuẩn. Duy từ các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến đi sang Đông Nam Dương thì qua Sa Mã Kiø Đầu Môn ở Đài Loan mà đến các nước Lữ Tống. Thuyền Tây Dương đi phía Đông biển Côn Lôn Thất Châu ở phía ngoài Vạn Lý Trường Sa, qua Sa Mã Kì Đầu Môn mà đến Phúc Kiến và Chiết Giang. Thuyền Nhật Bản thì lấy thẳng đường dây cung mà đến Trung Quốc, đến Nam Dương thì đi phía ngoài Vạn Lý Trường Sa, mênh mông không lấy gì làm chuẩn được, đều từ Việt dương trong khoảng các đảo ấy mà đến Thất Châu”[  58  ].

Đến đây sách Hải Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (đời Nhà Thanh) đã bắt đầu viết rõ về vị trí của Vạn Lý Trường Sa song không có cơ sở để nói rằng Vạn Lý Trường Sa chỉ Nam Sa hay Trường Sa của Việt Nam. Càng không thể là bằng chứng về sự  xác lập chủ quyền của Trung Quốc trên quan điểm này. Thật rối mù và tùy tiện! Khi thì các học giả Trung Quốc cho Vạn Lý Thạch Đường chỉ  quần đảo Trung Sa (32), có khi là Vạn Lý Thạch Đường lại là quần đảo Tây Sa (đảo “Đá Đỏ” Hồng Thạch Dữ), lúc là “Thạch đảo” (đảo đá)  trong cụm đảo Thượng Thất Đảo thuộc quần đảo Nam Sa, khi Thạch Đường chỉ quần đảo Đông Sa. Đông Sa đã di chuyển đầu tiên từ chỗ gần bờ biển Quảng Đông tới vị trí hiện nay. Khi  “Thiên Lý Thạch Đường” chỉ quần đảo Nam Sa. Trong phần chú của Hải Quốc Văn Kiến Lục, khi ghi chú Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường chỉ chung các đảo Nam Hải. Trong phần chú các sử sách đời Thanh  như trong dẫn chứng Tổng Đồ vẽ phủ châu huyện sách đời Thanh năm 1800, trong Thanh Hội Phủ Châu Huyện sách Tổng đồ do Hiền Phong vẽ năm 1800, lại chỉ Thất Châu Dương là quần đảo Tây Sa. Có chỗ ghi  Vạn Lý Thạch Đường  chỉ quần đảo Trung Sa và Nam Sa như ghi chú Đại Thanh Trung Ngoại Thiên Hạ Toàn Đồ năm 1709 hay Thanh Trực Tỉnh Phân Đồ năm 1724, Hoàng Thanh Các Trực Tỉnh Phân Đồ trước 1755, hoặc Trường Sa chỉ quần đảo Tây Sa, Nam Sa trong ghi chú Đông Nam Hải Di đồ trong sách Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi năm 1621 và nhiều bản đồ khác!

Như chúng ta đã biết, với những dẫn chứng rất mơ hồ và rối mù trên, các nhà học giả Trung Quốc cố gán ghép tùy tiện cho Tây Sa hay Nam Sa. Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ thì những sự kiện xảy ra chỉ loanh quanh ở vùng biển gần Phúc Kiến, Quảng Đông, không xa về phía Nam, rồi dần dần sau 1907 các địa danh Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa mới bắt đầu xuất hiện. Chính Nam Sa cũng thay đổi di chuyển từ Trung Sa hiện giờ xuống Nam Sa hiện nay cách hơn 500, 600 km!

Côn Lôn được người Trung Quốc sử dụng từ xưa trước Công Nguyên để chỉ một quả núi mà truyền thuyết cho rằng Mục Thiên Tử nước Tần đã đến đây để thăm

Tây Vương Mẫu. Sau đó người Trung Quốc đã dùng chữ ấy để chỉ nhiều ngọn

núi cao, cuối cùng chỉ cả núi Himalaya. Từ thế kỷ 17, người Trung Quốc lại dùng chữ Côn Lôn để chỉ một số đảo quốc ở miền Nam Hải. Khi ấy Côn Lôn hiện nay của Việt Nam chưa có tên ấy. Theo ông Pelliot cho rằng Côn Lôn của Việt Nam hiện nay do phiên âm tiếng Mã Lai gọi đảo này là Pulau (Cù Lao) Kunder hay là đảo Bí, người phương Tây gọi là Poulo Condor (33).

Việc tùy tiện gán ghép địa danh Tây Sa cũng như Nam Sa như trên càng quá rõ ràng khi chúng ta phát hiện tài liệu của Trung Quốc được sưu tầm trong “Bộ sưu tập sử liệu" của nhóm Hàn Chấn Hoa, đã xác định rõ ràng vị trí của Vạn Lý Trường Sa  như sách Quảng Đông Đồ Chí của Mao Hồng Tân chép Vạn Lý Trường Sa thuộc Việt Hải (ở ngoài biển có huyện Quỳnh Châu…) càng chia ra nhiều đảo nhánh, đảo lớn nhỏ lô nhô, có nhiều bãi ngầm, đá ngầm, càng hiểm trở  đó là Vạn Lý Trường Sa. Đây là những tên cửa biển Việt (Quảng Đông) từ Đông Vạn Châu đến tận Nam Aùo ( Sách Quảng Đông Đồ Chí, khắc bản Đồng Trị 5 (1860), quyển 67, phủ Quỳnh Châu , tr 3)

 Sách Quỳnh Châu Phủ Chí  của Minh Nghi, sách Nhai Châu Chí của Chung Nguyên Đệ, sách Cảm Ân Huyện Chí của Chu Văn Hải  cũng ghi Thiên Lý Thạch Đường, Vạn Lý Trường Sa  thuộc Quỳnh Dương, Việt Hải là biển Đông của Quảng Đông, xứ Bách Việt xưa, Quỳnh Dương là biển Đông cùa Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam đều thuộc vị trí kế cận tỉnh Quảng Đông, không thể xuống tận Nam Sa hiện nay được [  58 ].

Rất nhiều sách của Trung Quốc tả lộ trình đi biển đều nói rất rõ về Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đương, không thể nào ở xa như vị trí “Nam Sa” hiện nay. Sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh mô tả đường đi  từ  Hạ Nam đến xứ Quảng Nam khi thấy Ngoại La Sơn (Cù lao Ré) của xứ Quỳnh , nếu chệch về Đông thì phạm vào Vạn Lý Trường Sa , Thiên Lý Thạch Đường mà chệch về Tây sợ rằng thuyền chạy vào vịnh Quảng Nam.

Như thế cho tới giữa thế kỷ 19 và mãi cho tới năm 1947, Vạn Lý Trường Sa chưa bao giờ  được Trung Quốc chỉ Nam Sa hay Spratley hay Trường Sa của Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với thực tế, cho tới năm 1909, chưa  bao giờ  nhà cầm quyền Trung Quốc quan tâm đến việc chiếm hữu các quần đảo ở Biển Đông. Riêng quần đảo Nam Sa mà Trung Quốc gọi là Đoàn Sa  năm 1935 và đổi tên là Nam Sa từ năm 1947, còn bị chậm  hơn Tây Sa ít ra gần ba chục năm. Khi chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam làm thủ tục chiếm hữu  theo truyền thống Phương Tây vào những năm 1930 đến 1933 thì Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có ý đồ xâm phạm chủ quyền ở quần đảo này với thực dân Pháp đang bảo hộ Việt Nam  về mặt ngoại giao.

Tên “Nam Sa” cũng không có nhiều bằng chứng dù là giả tạo như Tây Sa mà Trung Quốc viện dẫn về sự phát hiện. Không có gì giá trị vì đại loại cũng giống như những viện dẫn về Tây Sa mà chúng ta đã biết ở trên đây.

Văn kiện Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980 cũng như Bộ Sưu Tầm Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng nêu tư liệu văn vật khảo cổ hay tư liệu Canh Lộ Bạ của các ngư dân ở đảo Hải Nam. Thật uổng công, bởi dù có tìm thấy nhiều cổ vật Trung Quốc hay đồng tiền cổ (như tiền Vĩnh Lạc) thì cũng giống như các nhà khảo cổ Pháp tìm thấy nhiều đồng tiền La Mã và cổ vật của thời La Mã cổ đại ở di chỉ Oùc Eo (Nam Bộ Việt Nam). Không thể kết luận người La Mã đã phát hiện hay có chủ quyền đối với Việt Nam. Điều tai hại trong tư liệu văn vật khảo cổ mà Trung Quốc dẫn chứng ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) lại ghi rõ có “Hoàng Sa Tự” là bằng chứng chủ quyền của Việt Nam như đã trình bày. Cũng thế Canh Lộ Baï của ngư dân đảo Hải Nam lại ghi Đông Hải mà Đông Hải là biển phía Đông. Phía Đông của đảo Hải Nam hay của nước Trung Hoa thì ở đâu ai cũng đều biết. Vị trí của Hoàng Sa, Đoàn Sa đều ở phía Nam của đảo Hải Nam hay Trung Quốc!

Với những luận cứ, luận chứng phi lý, mơ hồ, thiếu xác thực như trên, văn kiện Bộ Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980 lại phê phán lập luận trong sách trắng Việt Nam năm 1979 rằng “phần đầu những tư liệu đó một ngón chỉ hươu nói là ngựa, còn phần sau thì hoàn toàn không thể đứng vững được và cũng là không có giá trị luật pháp”.

Văn kiện trên cho rằng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam vốn hoàn toàn không phải là quần đảo Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc, mà chỉ có thể là những đảo và cồn cát ở ven biển  miền Trung Việt Nam, mà nhóm Hàn Chấn Hoa còn nói bừa rằng Hoàng Sa chính là Cù Lao Ré hay Cù Lao Chàm. Trong khi chính ngay Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, tài liệu mà Trung Quốc viện dẫn lại có nhiều đoạn ghi rất rõ Bãi Hoàng Sa ở gần địa phận Phủ Liêm Châu thuộc Hải Nam hay sự kiện hai lính Hoàng Sa trong khi đi công tác bị giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) vào năm Càn Long thứ 18 (1754).

Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 viết rằng cuốn sách trắng của Việt Nam  1979 không tìm ra được bất cứ một tài liệu lịch sử nào có giá trị công nhận Trường Sa  tức là  quần đảo Nam Sa của Trung Quốc. Điều này là đương nhiên vì Nam Sa của Trung Quốc không có thật, bất nhất:  năm 1935 Nam Sa ở bãi đá ngầm Macclesfield, đến năm 1947 Nam Sa lại chuyển xuống phía Nam như đã nhắc đến nhiều lần. Rồi đây Nam Sa có ngừng ở vị trí 4 độ Bắc hay còn di chuyển thêm nữa?  Sách Phủ Biên Tạp Lục đã xác định rõ Đại Trường Sa hay Trường Sa của Việt Nam cũng ở xứ Bắc Hải mà xứ Bắc Hải lại ở phía Nam Biển Đông, tiếp tới đảo Côn Lôn.  Như vậy là đủ rồi !

Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 còn rêu rao rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã lật lọng:

 “Giờ đây, nhà cầm quyền Việt Nam lại tráo trở lật lọng, nuốt trôi những lời họ đã nói, hoàn toàn làm sai trái với lập trường trước đây của họ công nhận quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Đó là điều luật pháp quốc tế quyết không cho phép được”.

Trước hết, nếu nói đến luật pháp quốc tế có giá trị cho tất cả các nước (trong đó có cả Trung Quốc) đã ký hiệp định Genève năm 1954, thì Miền Nam Việt Nam  ở từ vĩ tuyến 17 trở xuống trong đó bao gồm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa do quân đội viễn chinh Pháp sau năm 1956 giao lại cho chính quyền ở Miền Nam Việt Nam quản lý.

Chính quyền Sài Gòn và sau đó chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam mới có trách nhiệm quản lý, bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Chưa bao giờ hai chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam cũng như Việt Nam Cộng Hoà đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền này cả.  Bất cứ chính phủ nào, kể cả chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, không phải các chính quyền ở Nam Việt Nam, theo hiệp định Genève lúc bấy giờ không trực tiếp quản lý lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, dù tuyên bố như thế nào cũng chỉ có giá trị về chính trị thời bấy giờ, không ảnh hưởng   đến  chủ  quyền   của   Việt  Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!

Chính khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa tháng 1 năm 1974, chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam đã từng tuyên bố rằng vấn đề này là vấn đề lịch sử để lại, cần giải quyết bằng giải pháp hoà bình

Vì thế, bất cứ lời tuyên bố của bất cứ chính quyền nào kể cả chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cũng không có giá trị pháp lý quốc tế  về chủ quyền tại hai quần đảo này.

Lập trường của chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam đối với sự kiện Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 đã phản ảnh trung thực đường lối của Cách Mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Còn bất cứ điều gì khác chỉ phản ánh những hành động cùng nhau đấu tranh chống kẻ thù chung. Ngoài ra Trung Quốc đã xuyên tạc lời tuyên bố của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thủ tướng chỉ tán thành bản tuyên bố quyết định  về hải phận  của Trung Quốc, của chính phủ CoÄng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mà thôi.

Trong thực tế, Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc không phải là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, chỉ là sự gán ghép, suy diễn, không hề có sự chiếm hữu  trong lịch sử của Trung Quốc trước năm 1909 đối với Tây Sa và trước 1935 đối với Nam Sa.

Văn Kiện Bộ Ngoại Giao cũng như Bộ Sưu Tập Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng đã tốn công quá nhiều để dẫn chứng nhiều nước trên thế giới thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Tây Sa và Nam Sa. Đồng minh thì thời nào, nuớc nào cũng có,  sẵn sàng ủng hộ chủ trương ngoại giao của một nước nào . Cũng như tại Hội Nghị San Francisco năm 1951, Trung Quốc cũng được Liên Xô đề nghị Hội Nghị chấp nhận là chủ các quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Song Hội Nghị San Francisco 1951 cũng như sau này chưa hề có một hội nghị quốc tế nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo này. Chỉ thấy Trung Quốc có hành động vũ lực năm 1974 đối với Hoàng Sa và năm 1988 đối với một số đảo ở Trường Sa, vi phạm hiến chương Liên Hiệp Quốc mà thôi !

Sau văn kiện ngoại giao ngày 31 tháng 1 năm 1980, Trung Quốc còn công bố bị vong lục năm 1988 đồng thời có nhiều công trình nghiên cứu như "bộ sưu tập sử liệu" của nhóm Hàn Chấn Hoa đã dẫn chứng. Tuy có cố gắng sưu tầm nhiều hơn song luận điểm không có điều gì mới mẻ đáng kể, cũng cho rằng người Trung Quốc phát hiện sớm như kinh doanh, sản xuất sớm nhất và quản hạt sớm nhất. Song vì không có thật nên dù có công phu đến bao nhiêu cũng chỉ là công trình xây lâu đài trên bãi cát và uổng công “dã tràng xe cát biển Đông”. Và vì thế trong văn kiện ngoại giao của Trung Quốc có đưa ra nhiều bằng chứng về sự bảo vệ chủ quyền cũng như những nước ủng hộ chủ quyền của Trung  Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đều không đáng quan tâm vì những luận cứ và luận chứng về sự chiếm hữu thật sự của Trung Quốc đã không đứng vững, không có cơ sở khoa học, không có tính thuyết phục.

3.3.2. Phản bác các luận điểm của các nước Philippines, Malaysia, Brunei biện minh cho sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.

Quá muộn màng, gần một nửa thế kỷ sau khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, các nước ở Đông Nam Á khởi đầu bằng Philippines, tiếp tới Malaysia, Brunei mới bắt đầu đặt vấn đề xâm phạm chủ quyền trên một phần của quần đảo Trường Sa. Philippines bắt đầu xâm phạm chủ quyền Việt Nam đầu tiên từ năm 1956, Malaysia  từ năm 1979, Brunei năm 1982. Nguyên nhân bộc phát sự xâm phạm của các nước ở Đông Nam Á chính là ngoài vấn đề chiến lược còn là vấn đề tài nguyên khi mà tài nguyên ở đất liền cạn kiệt dần trong khi tài nguyên dưới biển chung quanh các hải đảo quần đảo Trường Sa lại có nhiều tiềm năng, nhất là về trữ lượng dầu hoả. Trung Quốc mưu toan xâm phạm ngay cả vùng thuộc thềm lục địa của Việt Nam (Xem các bản đồ về tình hình  tranh chấp)

Công  Ước Về Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc năm 1982 qui định :

-         Mỗi quốc gia được phép thiết lập lãnh hải không quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở  ( Điều 3).

-         "Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có  một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được dùng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (điều 7).

-         Quốc gia ven biển không được cản trở việc đi qua không gây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp mà Công ước đã trù định ( điều 24).

-         Quốc gia ven biển có thể lập một vùng giáp lãnh hải, không rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở  dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ( điều 33).

-         Một quốc gia quần đảo có thể kẻ những đường thẳng  để xác định phạm vi lãnh hải,  vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế ( EEZ ) và thềm lục địa với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất kể cả vành đai san hô, phải "ở" giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Chiều dài của các đường cơ sở này không được vượt quá 100 hải lý, có thể có tối đa là 3% tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng cũng không quá 125 hải lý  (điều 47 và 48).

-         Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước ở phía  trong đường cơ sở quần đảo được vạch ra theo đúng điều 47  được gọi là vùng nước quần đảo, bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của vùng nước đó như thế nào (điều 49) .

-         Quốc  gia có bờ biển được phép có vùng đặc quyền “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”  ( điều 57)

-         Vấn đề thềm lục địa, theo công ước 1982 đã chấp thuận cách định nghĩa mới và xác định giới hạn 200 hải lý thay cho tiêu chuẩn 200 m độ sâu. Hiện nay , qui mô của thềm lục địa tương đương với qui mô của EEZ.  Người ta qui định rằng thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền  của nước này cho đến mép ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn  ( điều 76.1)

-         Nếu rìa ngoài của thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, công ước qui định rằng có hai cách  giới hạn phạm vi của thềm lục địa. Một là mở rộng đến 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng vùng lãnh hải. Hai là mở rộng không quá 100 hải lý tính từ đẳng sâu (150 bath) 2500 mét, là đường nối liền các điểm có chiều sâu 2500 mét (điều 76.5)

-         Công ước cũng cho phép các đảo có quyền có lãnh  hải,  vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng  đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giống như lãnh thổ trên đất liền. Tuy phủ nhận quyền có thềm lục địa và EEZ đối với những  đá không thể nuôi sống con người hoặc không có cuộc sống kinh tế riêng, song rõ ràng công ước đã làm cho sự tranh chấp trở nên phức tạp khi xảy ra đầy rẫy những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán quốc gia  trong phạm vi cách nhau 400 hải lý.Việt Nam cùng các nước khác trong vùng cũng đã công bố những đường cơ sở của bờ biển cũng như thềm lục địa và EEZ . Chắc chắn sẽ xảy ra những vùng chồng lấn tranh chấp chỉ với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc ở rất xa không hề có hiện tượng chồng lấn ở Trường Sa, nếu có chỉ có thể ở Hoàng Sa mà thôi.

Đối với Philippines, lãnh hải trước đây đã được ghi rõ trong bản hiệp định giữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1895 (điều 3 Hiệp định ký 10/12/1898 giữa Tây Ban Nha và Mỹ) xác định biên giới phía Tây của Philippines đi qua kinh gốc 118 o Đông, như vậy là không bao gồm một đảo nào trong quần đảo Trường Sa) và trong hiệp định giữa Mỹ và Anh hồi năm 1930, đã được tính dọc theo các đường kinh tuyến và vĩ tuyến song song tạo thành vùng hình chữ nhật.

Trong hai năm 1949 và 1950, Tomas Cloma, chủ một đội ngư thuyền và thương thuyền đồng thời là giám đốc  một trường hàng hải Philippines đã khám phá thấy một nhóm đảo lớn nhỏ ở cạnh đảo Palawan của Philippines khoảng 400 dặm về phía Tây. Ông hy vọng lập một nhà máy nước đá và một nhà máy đóng đồ hộp  ở trên một hòn đảo lớn nhất  ở đây cũng như là khai thác phân chim trong những hòn đảo kế cận.

Ngày 17 tháng 5 năm 1951, Tổng Thống Philippines lên tiếng đòi chủ quyền quần đảo Trường Sa lấy cớ là Trường Sa ở sát cạnh quần đảo Philippines.     Ngày 24 tháng 8 năm 1951, Tân  Hoa Xã tranh cãi về chủ quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines và kiên quyết khẳng định chủ quyền của Trung Quốc.

Ngày 15 tháng 3 năm 1956, Thomas Cloma cùng một nhóm tìm kiếm  Philippines đổ bộ lên vài đảo ở quần đảo Trường Sa,  viện  cớ  đó là những đảo hoang vô chủ và đặt tên cho những vùng đã chiếm là “Freedomland”. Sau đó Thomas Cloma thông báo cho Ngoại trưởng Philippines biết các sự việc, xin chính phủ Philippines cho vùng đất đã chiếm được hưởng qui chế đất bảo hộ. Ngày 19/5 Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Philippines tuyên bố là ngoài 7 đảo được quốc tế biết cái tên là Spratly, tất cả các đảo nhỏ linh tinh khác trong quần đảo này đều là đất vô chủ (res nullius).

Năm 1971, Bộ Tư  Lệnh Hải Quân Philippines thông báo là để đảm bảo an ninh cho Philippines, Philippines đã chiếm đóng 4 đảo Vĩnh Viễn, SongTử Đông, Loaita, Thị Tứ  mà họ gọi là Lawak, Parola, Kota, Pagasa.

Ngày 16 tháng 7 năm 1971, Tân Hoa Xã lên án việc Philippines chiếm đóng  một số đảo của quần đảo Trường Sa và khẳng định các yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo này.

Năm 1978, Philippines chiếm thêm đảo Panata trong quần đảo Trường Sa, nâng tổng số đảo họ chiếm lên 7 đảo, ngoài 4 đảo đã chiếm 1971, 2 đảo khác họ lấy tên Likas và Pugad. Ngày 11 tháng 6 năm 1978, tổng thống Philippines ký sắc lệnh coi hầu hết quần đảo Trường Sa trừ đảo Trường Sa (Spratley), là lãnh thổ Philippines gọi là Kalayaan.

Ngày 2 tháng 3 năm 1978, quân đội Philippines chiếm thêm 1 đảo nữa, đảo Lan Kian Kay  trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 28 tháng 7 năm 1980, Philippines chiếm đóng đảo Condor trong quần đảo Trường Sa. Ngày 11 tháng 8 năm 1980, Việt Nam gửi công hàm phản đối.

Ngày  21 tháng 5 năm 1984, Hiệp Ước Phòng Thủ chung Mỹ Philippines không coi quần đảo Kalayaan (tức Trường Sa ) là bộ phận lãnh thổ  Philippines.

Cũng vào tháng 5 năm 1984,  trước sự phản đối liên tiếp của phía Việt Nam, ông Win Naelson, Tổng Thư Ký  OMM đã trả lời phía Việt Nam: “Cái tên gọi được dùng trong công bố này và việc trình bày các số liệu ở trong đó không ràng buộc đối với tổng thư ký OMM về bất cứ  việc đưa ra quan điểm nào có liên quan đến quy chế pháp lý của các nước, các lãnh thổ, các thành phố hoặc khu vực hay các hoạt động của họ, cũng không ràng buộc về việc vạch ra các đường biên giới hay giới hạn của các nước”.

Malaysia, ngày 21 tháng 12 năm 1979 đã công bố một bản đồ mới qui định ranh giới thềm lục địa và vùng biển của mình, trong đó, có một vùng rộng lớn phía Nam quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trước đó vào năm 1971, sứ quán của Malaysia gửi công hàm số EJ7-71 ngày 3 tháng 2 năm 1971, hỏi Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hoà các đảo nằm trong lãnh thổ của nước gọi là Cộng Hoà Morac - Songhrati - Meads,  nằm giữa vĩ tuyến 90 Bắc   và kinh tuyến 1120 Tây có thuộc hay là đối tượng yêu sách của Việt Nam Cộng Hoà không? Ngày 20/4 trong công hàm trả lời, Chính quyền Sàigòn đã khẳng định quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

 Ngày 15 tháng 5 năm 1980, Malaysia đã tuyên bố nhận chủ quyền khu EEZ rộng 200 hải lý và đề nghị giải quyết các vùng phân định phạm vi quyền tài phán chồng lên bằng các biện pháp hoà bình. Ranh giới ngoài của thềm lục địa của Malaysia bao gồm một phần phía Nam của quần đảo Trường Sa của Việt Nam, trong đó có các đảo An Bang, Thuyền Chài do Việt Nam chiếm giữ và đá Công Đo do Philippines chiếm đóng. Đây là yêu sách chính thức đầu tiên của Malaysia tranh chấp với Việt Nam.

Ngày 23 tháng 2 năm 1983, Malaysia đưa ra vấn đề chủ quyền của họ đối với 3 hòn đảo trong quần đảo Trường Sa. Ngày 25 tháng 3 năm 1983, Bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ mọi đòi hỏi của Malaysia đối với các đảo trên. Và cũng trong tháng 6 năm 1983, Malaysia đưa binh lính chiếm đóng đảo Hoa Lau và bắt đầu những công trình xây dựng, chính phủ Việt Nam phản đối quyết liệt.

Tháng 12 năm 1986, Malaysia chiếm đóng các đảo  Kỳ Vân  Kiệu Ngựa thuộc quần đảo Trường Sa.

Vì bắt đầu tranh chấp quá chậm, từ cuối thập niên 70 nên Malaysia không có những bằng chứng lịch sử. Từ năm 1978, Malaysia đã cố gắng tìm kiếm lập luận để biện minh. Năm 1988, Thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Malaysia, ông Toh Muda đưa ra lập luận :

"Các đảo và đá san hô thuộc chủ quyền của MalaysiaMalaysia trong quá khứ đã khẳng định quyền tài phán của chúng… Chúng nằm trong vùng thềm lục địa của Malaysia và chủ quyền của Malaysia trên các đảo đá đó đã được tuyên bố chính thức qua tấm bản đồ mới của Malaysia và công bố ngày 21-12-1979… Yêu sách này là phù hợp với Công Ước Genève năm 1958 và ranh giới lãnh hải và thềm lục địa và Công Ước của Liên Hợp  Quốc về luật biển vũng như thực tiễn quốc tế khác".  (New Straits  Times, 23-1985).

Năm 1995, Malaysia tuyên bố và tiến hành xây dựng cơ sở du lịch trên các điểm họ chiếm đóng

Ngày 27 tháng 6 năm 1996, phát biểu tại buổi khai mạc "Chương trình thị trường du lịch Langkawi", Thủ Tướng Malaysia Mahathir Mohamad nói rằng các đảo san hô ở Biển Đông mà Malaysia đã xây dựng các kết cấu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và như vậy Malaysia không hề xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào cả. (TTXVN, Tin Nhanh, ngày 28-6-1996)

Tháng 6-1999, Malaysia chiếm đóng và xây dựng công trình nhà hai tầng và các cơ sở Rađa trên bãi cạn Thám Hiểm (Peninjan) và đá Én Ca (Siput), cách bờ biển phía Đông Malaysia 160-170 hải lý.

Brunei thì đã ban hành đạo luật đánh cá năm 1982 rộng 200 hải lý, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1983. Vùng này chồng lấn với các vùng đặc quyền về kinh tế mà các nước láng giềng nhận chủ quyền.

Còn Indonésia cũng tuyên bố nhận EEZ rộng 200 hải lý tháng 3 năm 1988, song không có sự tranh chấp nào liên quan đến quần đảo Trường Sa.

Ngày 16/12/1994 Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển có hiệu lực sau khi có 60 nước phê chuẩn Công ứơc. Ngày 23/06/1994, nước Việt Nam là nước thứ 61 phê chuẩn Công Ước.Trong bối cảnh ra đời luật biển 1982, sự tranh chấp chủ quyền về Trường Sa có nguy cơ tăng lên.

Trình bày những sự kiện trên đây cốt để chứng tỏ sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của các nước Philippines, MalaysiaBrunei với lý do rất đơn giản và quá muộn màng.

Luận điểm của Philippines nói chung dựa vào “thuyết kế cận”, cho rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa gần nước ấy hơn và là những hòn đảo vô chủ. Còn các nước Malaysia, Brunei đặt vấn đề vùng đặc quyền kinh tế dựa vào qui định của Công Ước Về Luật Biển năm 1982. Trong khi trên thực tế Việt Nam đã có chủ quyền trên quần đảo Trường Sa từ rất lâu trước khi có Công Ước về luật biển. Do hầu hết đều là các đảo đá san hô có lúc thủy triều lên bị chìm xuống dưới biển hoặc không có người ở trong số hơn 100 đảo, đá, bãi ngầm nên các nước đó cho rằng các đảo, bãi ấy còn hoang vu nên có nước chiếm được thì nước họ cũng có quyền chiếm hữu, vì vậy khi có thời cơ thuận lợi là các nước ấy hành động. Từ khi có Luật Biển năm 1982, các nước trên cho rằng mình áp dụng luật này về thềm lục địa, về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Song Luật Biển năm 1982 cũng đã qui định khi có chồng lấn với nước đã có chủ quyền ở các hải đảo thì  phải giải quyết bằng con đường thoả thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã được nêu ở điều 38 của quy chế Toà Aùn Quốc Tế, để đi đến một giải pháp công bằng (điều 74, 83).

Khác với Việt Nam và Trung Quốc, các nước Philippines, Malaysia, Brunei đều không chủ trương đòi chủ quyền tất cả quần đảo mà chỉ một phần, Philippines đòi nhiều hơn, trừ đảo Trường Sa (Spratly) của Việt Nam, Malaysia lấy các đảo Loaita làm ranh giới, Brunei cũng thế đòi chủ quyền các đảo kế cận nước họ. Từ những năm thập niên 80, các nước Philippines, Malaysia đã dùng vũ lực chiếm đóng và có những hành động khiêu khích đối với lực lượng bảo vệ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa, là vi phạm công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 cũng như Hiến Chương Liên Hợp Quốc.