PHẦN KẾT LUẬN
Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu cho đến trước thời Pháp thuộc, được
người Việt Nam quan niệm là một, gồm những dãi cát (san
hô) dài vạn dặm ở Biển Đông; đến thời Pháp thuộc, mới được tách
làm hai quần đảo.
Trái ngược lại với Trung Quốc, tên gọi Hoàng Sa của Việt Nam mà
chữ Nôm có nghĩa là Cát Vàng hay gọi là Cồn Vàng rất nhất
quán từ đầu thế kỷ XVII đến nay và đã được các người phương
Tây từ đầu thế kỷ XIX như Taberd, Chaigneau, Gutzlaff xác nhận chính là
Parcel hay Paracels! Đó là chưa kể các tài liệu Việt Nam như Phủ
Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn đã xác định rất
rõ vị trí Hoàng Sa ở gần Liêm Châu, thuộc
Hải Nam Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc chỉ mới đặt tên Tây Sa
và Nam Sa từ đầu thế kỷ XX. Tên gọi Tây Sa, lại được Trung Quốc ra sức gán ghép
với những địa danh rất mơ hồ như Cửu Nhũ Loa Châu, lại chỉ là
những hòn đảo ở gần bờ biển Quảng Đông của Trung Quốc . Còn
về Nam Sa, Trung Quốc lại rất bất nhất, khi thì chỉ Macclesfield,
khi thì chỉ Spratley.
Việt Nam đã có đầy đủ bằng chứng địa lý,
lịch sử và pháp lý cụ thể rõ ràng, chứng minh một thực
tế lịch sử không thể tranh cãi về sự chiếm hữu
thực sự, hoà bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt
Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Lợi dụng địa hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa nằm rải rác, khó phòng thủ trong Biển Đông, bị ảnh hưởng
khí hậu gió mùa, lại là vùng có nhiều bão tố, lợi dụng
tình trạng người Việt sống và khai thác ở hai quần đảo này
theo mùa, ít ra trong 6 tháng hàng năm, cũng như lợi dụng thời kỳ Việt Nam bị thực dân
Pháp thống trị, mất quyền tự chủ về ngoại giao và thời kỳ
Việt Nam có chiến tranh giải phóng giành độc lập, Trung Quốc và các
nước khác đã dùng vũ lực chiếm đóng bất hợp pháp từng
phần rồi trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa, đã và đang tiếp tục xâm
phạm chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Gần một thế kỷ,
từ đầu thế kỷ XX đến nay, khi bị nước ngoài xâm phạm, các
chính quyền ở Việt Nam kể cả thời bị thực dân cai trị
đều tiến hành việc quản lý hai quần đảo này, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt
Nam, tuy cung cách tiến hành có khác.
Cho đến thời điểm bắt đầu có nước ngoài xâm phạm chủ quyền năm 1909, suốt gần 3 thế kỷ
từ thế kỷ XVII, Việt
*Đối với quần đảo Hoàng Sa:
-
Suốt gần ba thế kỷ, khởi đầu từ thế kỷ XVII cho
đến khi Trung Quốc xâm phạm (1909), Hoàng Sa đã thuộc quản lý
hành chánh của Quảng Ngãi khi là phủ, dinh rồi trấn và tỉnh dưới
thời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn (đầu thế kỷ XVII – 1801), và
thời nhà Nguyễn (từ 1802)
đến thời Pháp thuộc
Chính các vua Việt Nam trong đó có vua Minh Mạng (1836), Thiệu
Trị (1845) và đình thần (Bộ Công), đã khẳng
định trong tài liệu biên niên sử (Đại Nam Thực Lục Chính Biên,
đệ nhị kỷ, quyển 104, 154, 165) hay Quốc Triều Chính Biên Toát
Yếu hoặc trong pháp chế (Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ,
quyển 221) hoặc trong văn khố (các tập châu bản 56, 57) rằng Hoàng
Sa nằm trong hải phận Quảng Ngãi, cương giới hiểm yếu
của Việt Nam . Chính nhận thức của vua Minh Mạng và triều
đình về Hoàng Sa nằm trong cương vực hiểm yếu đã mang ý
nghĩa về tầm nhìn chiến lược của tiền nhân ta về các hải
đảo ở Biển Đông.
Ngoài Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, Phủ Biên Tạp
Lục của Lê Quí Đôn, Dư Điạ Chí của Phan Huy Chú cũng có sách
địa lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn như Hoàng Việt
Địa Dư Chí nhất là Đại Nam Nhất Thống Chí đều ghi rõ quần
đảo Hoàng Sa vào mục hình
thể hoặc cương vực, vùng biển của tỉnh Quảng Ngãi.
-
Nhà nước ở Việt Nam
đã tổ chức đội Hoàng Sa khai thác sản vật ở Hoàng Sa lâu dài
hàng năm trong 6 tháng vào mùa có khí hậu thích hợp, liên tục hơn hai
thế kỷ từ đầu thế kỷ XVII, dưới thời Chúa Nguyễn sang đến
đời Tây Sơn, đến đầu nhà Nguyễn.
-
Từ năm 1816 thời Gia Long
đã bắt đầu, song từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), mới trở thành
lệ hàng năm việc triều Nguyễn sai thủy quân cùng với đội
Hoàng Sa đi thám sát, đo đạc, vẽ bản đồ, và còn có khi dựng
miếu thờ làm bằng đá, dựng bia, cột mốc, trồng cây…
-
Nhiều người phương Tây viết
nhật ký, bài viết, vẽ bản đồ khẳng định Paracel là quần
đảo thuộc nước “An Nam” hoặc như giám mục Taberd (1838) đã khẳng định Cát
(Kát) Vàng (Hoàng Sa) là Paracels, hoặc như Jean Baptist Chaigneau (1820) hay Gutzlaff (1849) đã chép rằng vua Gia Long từ
năm 1816 đã cho cắm cờ, dựng bia, đặt trại binh, thu thuế.
-
Chính người Trung Quốc như
Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sự cũng xác nhận các chúa
Nguyễn, hàng năm cho thuyền khai thác các sản vật các tàu
bị đắm ở vùng Vạn Lý Trường Sa (tức Hoàng Sa của Việt
-
Từ khi bị nước ngoài
xâm phạm, các nhà nước ở Việt Nam kể cả thời Pháp thuộc không bao
giờ từ bỏ chủ quyền Việt Nam, tiếp tục có các hành động củng cố,
thực thi chủ quyền.
*Đối với quần đảo Trường Sa.
Theo quan điểm quản lý các hải đảo ở Biển Đông của các triều
đình Việt Nam, trong một thời gian dài, quần đảo Trường Sa và
quần đảo Hoàng Sa là một. Những bằng chứng cụ thể cho sự
chiếm hữu thực sự, hoà bình và thực thi liên tục của
Việt
Quần đảo Trường Sa nằm chung trong Quần Đảo Hoàng Sa, thuộc cương vực vùng biển của Quảng Ngãi, nên
thuộc quyền quản lý hành chánh của
Quảng Ngãi. Song phần đảo Phía Nam chỉ thực sự sáp nhập
vào quần đảo Hoàng Sa sau khi Bình Thuận sáp nhập vào Đại Việt
năm 1697 và Bình Thuận chỉ quản lý hộ khẩu dân binh đội Bắc
Hải. Mãi đến năm 1933 dưới thời Pháp, Trường Sa mới được
thuộc vào tỉnh Bà Riạ thuộc Nam Bộ Việt
Nhà nước Việt Nam từ thời chúa Nguyễn, cuối thế kỷ XVII
đã tổ chức đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, hoạt động
liên tục cũng hàng năm lấy hải vật, vàng bạc ở các đảo ở
phía Nam Bắc Hải tức Trường Sa hiện nay và Côn Lôn, Hà Tiên. Sang
thời nhà Nguyễn, cũng như
tại Hoàng Sa “nói chung”, tại Trường Sa ngày nay nói riêng,
cũng có những hoạt động khẳng định, thực thi chủ
quyền của Việt Nam do thủy quân đảm trách, kể từ năm 1816 trở đi.
Thời Pháp thuộc, Pháp có hành động chiếm hữu quần đảo
Trường Sa theo truyền thống Phương Tây và sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa thuộc Nam Kỳ,
xứ thuộc địa trực trị của Pháp. Cho đến năm 1956, quân
Pháp rút khỏi Đông Dương, bàn giao lại cho chính quyền Sàigòn tiếp
tục quản lý Trường Sa.
Sau thời gian dài gần ba thế kỷ, Việt Nam xác lập và khẳng
định chủ quyền, Trung Quốc là nước đầu tiên xâm phạm chủ
quyền của Việt Nam trên đảo Trường Sa, khi Trường Sa được tách khỏi
Hoàng Sa, và chậm hơn Hoàng Sa ở phía Bắc. Đến thời gian sau chiến
tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc mới thực sự xâm phạm quần đảo Trường Sa của Việt
-
Suốt thời gian Trung Quốc
và các nước xâm phạm chủ quyền Việt Nam , thời Pháp thuộc đến thời
kỳ chiến tranh chống Pháp hay chống Mỹ, các chính quyền ở Việt
Nam có nhiệm vụ quản lý quần đảo Trường Sa, đã luôn đóng
quân, tổ chức khảo sát khoa học, khai thác tài nguyên ở Trường Sa,
tái khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Trường Sa.
Những bằng chứng về sự chiếm hữu thật sự, hoà
bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa đã rành rành như vậy, không ai có thể
chối cãi, vậy tại sao Trung Quốc và các nước khác lại cố
tình xâm phạm chủ quyền ấy của Việt Nam. Đó là hành động
thôn tính (debellatio) Họ đã đưa ra những luận điểm rất
khiên cưỡng, võ đoán. Hoàng Sa cũng như Trường Sa từ
trước không là đất vô chủ (res nullius), cũng không phải là
đất từ bỏ (derelicto), mà bị xâm phạm bằng vũ lực.
Trung Quốc và các nước khác đã và đang xâm phạm chủ
quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và sau đó là Trường Sa, lúc
đầu đưa ra luận điểm đất Hoàng Sa
vốn vô chủ (res nullius) để tranh chiếm. Khi chính quyền ở Việt
Nam thời Pháp thuộc bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch
sử về sự chiếm hữu thực sự của Việt Nam từ thời chúa
Nguyễn và thời nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng) và có hành động thực thi tái khẳng
định chiếm hữu quần
đảo Trường Sa vào nửa đầu thế kỷ XX thì Trung Quốc bắt đầu cố
tìm cách gán ghép, suy diễn rằng Trung Quốc đã xác
lập chủ quyền từ lâu đời, khi thì thế kỷ XV, khi thì
thời Tống, khi thời Đông Hán ( Tam
Quốc)!
Sau khi Trung Quốc chiếm đóng trái phép trọn vẹn quần đảo
Hoàng Sa năm 1974, và năm 1980, Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra văn
kiện với những luận điểm như
Trung Quốc đã phát hiện sớm nhất, khai thác kinh doanh sớm
nhất, quản hạt sớm nhất với những bằng chứng suy diễn,
vu vơ, bất nhất., thiếu cơ sở khoa học và thiếu thuyết phục.
Từ khi Luật Biển ban hành 1982 đến nay, nguyên nhân kinh tế
cũng quan trọng không kém nguyên nhân chính trị, quân sự.
Tài nguyên dưới biển nhất là trữ liệu lớn dầu khí, khí đốt ở
khu vực biển Đông đã khiến các nước trong khu vực đặt vấn đề
chiếm hữu để khai thác. Ngoài ra Luật Biển năm 1982 cũng
nảy sinh vấn đề thềm lục địa mới, lãnh hải đặc khu kinh
tế (EEZ) của mỗi nước chồng lấn giữa các nước trong khu
vực.
Thực chất Trung Quốc và các nước xâm phạm chủ quyền của Việt
Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vấn đề tranh giành
thế lực kiểm soát biển Đông vào lúc đầu tức chủ yếu là về mặt
chính trị quân sự. Sau đó từ vài thập niên gần đây đến
hiện nay , thực chất “vấn đề xâm
phạm” chủ yếu là do tham vọng chiếm hữu về tài nguyên dưới biển, nhất là dầu khí.
Riêng đối với Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa còn là nơi hiểm yếu
hay yết hầu, về mặt chiến lược phòng thủ phía biển Đông .
Vì thế đối sách tối ưu của Việt
Mặt khác, Việt
Đề nghị Việt
1.
Đem "lịch sử xác
lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt
2.
Phong liệt sĩ anh hùng cho
những ai hy sinh cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt
3.
Đặt tên đường, trường học
Hoàng Sa và Trường Sa và các liệt sĩ
anh hùng đã hy sinh cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt
Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
4.
Phổ biến rộng rãi
kể cả trên mạng internet về lịch sử xác lập, thực thi và bảo
vệ chủ quyền của Việt
5.
Phân chia vùng biển cho các
tỉnh địa phương từ tỉnh Quảng Trị đến Cà Mau, Rạch giá,
chính quyền cùng nhân dân quản hạt và khai thác tài nguyên, đầu tư
xây dựng và bảo vệ lãnh hải vùng quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.