PHẦN CHÚ THÍCH
CHƯƠNG 1
1,1 .Richard Spratly là tên của
thuyền trưởng người Anh của con tầu săn cá voi Cyrus, ông đã
phát hiện ra hòn đảo này vào 9 g sáng ngày 29 tháng 03 năm 1843.
Chính Đại Tá Doyle của Úc và Đại
Tá Campbell thuộc cơ quan Thủy đạc Hoàng Gia Anh đã viết thư cho
Cơ quan thủy đạc Hoàng Gia Anh vào ngày 1-4-1843 để cung cấp cho Cơ quan
này đặt tên cho hòn đảo. Xem Tạp
Chí Hàng Hải, 1843, p 697, trích
lại trong Maritime Briefing, volume 1, number 6, 1995 (University of Dunhan,
England).
1.2. An Vĩnh là
tên xã thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi gồm
phần ở đất liền và cù lao Ré, nơi cung cấp xuất đinh vào dân binh
đội Hoàng Sa từ đầu thời chúa
Nguyễn.
1.3. Amphitrite là tên của một trong
những chiếc tàu Châu Aâu đầu tiên bị nạn ở Hoàng Sa.
Chiếc tàu người Pháp sang buôn bán
với Trung Hoa cuối thế kỷ XVII (xem “ Journal de voyage aux Paracels”,
Jean Yves Claeys, Indochine (
1.4. Chỉ tính vị trí
đảo ở cực Bắc xuống đảo ở cực
1.5. Theo thống kê của Trung Quốc
năm 1935, khi đó còn gọi là Đoàn Sa, gồm 98 đảo, đá,
bãi, còn Nam Sa dùng để chỉ Macclesfield Bank, lúc ấy gồm 7 bãi đá. Năm 1947 lại thống kê
gồm 100 đảo, đá, bãi. Theo nhóm Hàn Chấn Hoa trong Trung Quốc
Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên đăng danh sách các đảo Nam Hải bao
gồm cả thảy 132 đảo, đảo ngầm, bãi cát riêng Nam Sa lúc bấy
giờ chỉ Macclesfield Bank, còn Đoàn Sa sau này đổi thành Nam Sa có 98
đảo, đá, bãi. Cũng trong bộ sưu tập trên của Nhóm Hàn
Chấn Hoa có đăng bản đối chiếu tên gọi mới cũ các đảo Nam Hải do Bộ Nội Chính Trung Quốc công
bố năm 1947, quần đảo Đoàn Sa đổi thành Nam Sa bao gồm 100 đảo, đá ,
bãi. ,
1.6. Căn cứ vào định nghĩa mới của
Luật Biển 1982 về thềm lục địa cùng khu đặc quyền kinh tế (EEZ)
, 5 bãi ngầm được kể thuộc thềm lục địa Tư Chính Việt
Nam gồm: bãi Phúc Tần (Prince
of Wales Bank, Guangya Tai , 8008 vĩ B, 1100 27 kinh
Đ),bãi Huyền Trân, Alexandra Bank, Renjunotan, 8001 vĩ B,
110037 kinh Đ), bãi Quế Đường (Grainger Bank, LizhunTan, 7048
vĩ B, 1100 29 kinh Đ), bãi Phúc Nguyên (Prince Consort
Bank, Xi wei tan, 7055 vĩ B, 1090 58 kinh Đ), bãi
Tứ Chính (Vanguard Bank , Want an Tan,
7032vĩ B, 1090 43 kinh Đ)
CHƯƠNG 2
2.7 Hiện
Viện Nghiên Cứu Hán Nôm (Hà Nội) có bản sao tập bản đồ của
Đỗ Bá Công Đạo ghi tiêu đề “Toản Tập An Nam Lộ” với hàng
chữ “ Chính Hoà Thất Niên” tức năm 1686 “, được ghép trong tập
thiên Hạ Bản Đồ. Cùng nội dung
tập Bản Đồ trên với tiêu đề “Toản
Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” được ghép trong tập Hồng Đức Bản
Đồ . Ở trang đầu tập bản đồ này có ghi hàng chữ :
“Thanh Giang Bích Triều nho sinh trúng thức, Đỗ
Bá thị, Công Đạo phủ soạn" (được ghi trong tập Hồng Đức Bản Đồ hiện còn được lưu
trữ số 100 891 tại Đông Dương Văn Khố (Toyo Bunko) của Nhật
Bản.) hoặc “Thanh Giang Bích Triều nho sinh trúng thức Đỗ Bá
thị, tự Công Đạo tập" (được ghi trong “Toản tập An Nam Lộ”, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm (Hà Nội),VHN A 2628).
Chữ phủ ở đây là một
khiêm từ có nghĩa là cẩn, kính , nay ít dùng, nên có người nhầm là
tên Đạo Phủ. Theo gia phả họ Đỗ ở thôn Cẩm Nang, xã Bích
Triều, huyện Thanh Chương , tỉnh Nghệ An ngày nay, ở phần phụ lục, gần
cuối gia phả có đoạn chép: “Họ ta xưa có Đỗ Bá, tự Công Luận
hoặc Công Đạo, tuổi trẻ đã đậu Hương giải, triều đình ra
ơn cho làm giám sinh, nhưng ông không lấy làm mừng. Ông lại là ấm
tử được bổ làm tri huyện huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn
làm quan. Ông thường than rằng “Nước ta liền cõi Chiêm Thành,
trước kia hàng năm bị xâm lấn, có lần giặc vào chợ Phuống giết
người cướp của thậm khổ”. Vào khoảng thời Chính Hoà (1680 - 1705),
ông từ quan, giả dạng người buôn từ sông Lam, vượt vùng biển Thuận
Quảng (nay là dải đất từ Quảng
Bình đến Phú Yên), qua các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, xem xét
núi sông, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế
Nam Chinh mở rộng biên cương. Chúa Trịnh (Trịnh Căn) rất mừng mang bản đồ
cất đi, lại trưng dụng ông soạn vẽ cho “Tứ Chí Lộ Đồ”.
Toản Tập Thiên Nam Tứ
Chí Lộ Đồ Thư gồm có 4 quyển. Trong mỗi quyển có một
số bản đồ và phần ghi chú thường ở bên trái hoặc bên trên
mỗi bản đồ. “Toản Tập Thiên
Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” do Đỗ Bá Công Đạo trước tác, qua
thời gian cho tới nay bị “tam sao thất bản”, có khi bị ghép
vào Hồng Đức bản đoà (được ghi
trong “Toản tập An Nam Loä”, Viện
Nghiên Cứu Hán Nôm (Hà Nội),VHN A
2628 ), có khi với tên Toản Tập An
Nam Tứ Chí Lộ Đồ lại ghi thêm
truyện linh tinh như “huyệt đất Cao Biền”, “sự tích Tả Ao”.v.v... Hiện
tại kho sách Hán Nôm (Hà Nội) có nhiều dị bản tập bản đồ
của Đỗ Bá Công Đạo.[18, 27]
2.8 Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 (tập I), Sàigòn: Tủ sách cổ
văn Ủy Ban Dịch Thuật, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá,
1972, tr 212. Nguyên tác hiện tàng trữ tại Viện Nghiên Cứu Hán
Nôm có 4 dị bản. Trong đó có 2 bản chép chữ
"hoại đủ nét" (A 148, A
1175); một bản chép chữ
"hoại bớt nét" (VHV. 1263), một bản chép chữ
"y" (VHV.1737). Như thế chép "y" là sai, nên đoạn
dịch "các thuyền ngoại Phiên bị bão thường đậu
ở đảo này phải được sửa là: "Thuyền các nước ngoài gặp gió phần nhiều hư hỏng tại đảo này". Xem Phạm Hân,
"Một lầm lẫn về văn bản của Phủ Biên Tạp Lục cần điều
chỉnh" Tạp chí Hán Nôm, số
2 (15), 1993, tr 28, 29.
2.9 Phủ Quảng Nghĩa. Từ đời Nguyễn Hoàng
vào trấn Thuận Quảng, đổi phủ Tư Nghĩa thành phủ Quảng Nghĩa. Đến
đời Gia Long 7 (1808) đổi thành trấn Quảng Nghĩa và đến Minh Mạng 13
(1832) đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa cho đến ngày nay còn gọi là tỉnh.
Phủ Quảng Nghĩa trườc thời Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành (
1471) thuộc về Chiêm Thành và trước đó thuộc là địa bàn tranh
chấp Việt Chiêm, khi thuộc Chiêm, khi thuộc Việt - Cf .Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6; tỉnh Quảng Ngãi, phần
Kiến Trí Duyên Cách.
2.10. Cù Lao Ré : Ré chứ không phải Trẻ, là
tục danh của đảo Lý Sơn, ở giữa biển, phía đông huyện
Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Trên đảo có dân 2 phường An
Vĩnh và An Hải cư ngụ.
2.11 Đại Trường Sa tức quần đảo Hoàng Sa. Khi
Lê Qúi Đôn biên soạn cuốn sách này (1776), đội Hoàng Sa vẫn
còn tồn tại, một chứng cớ về sự liên tục hành sử chủ quyền của
Việt Nam tại Hoàng Sa trong nhiều thế kỷ
2.12 Theo Hoa Bằng, Phan
Huy Chú dâng lên vua Minh Mạng nguyên niên (1820). (Xem Hoa Bằng, “Phan
Huy Chú với bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí", Tri Tân số
55 (21/7/1942), tr 3). Phan Huy Chú
tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong, quê
quán xã Thụ Hoạch, huyện Thiệân Lộc, tỉnh Nghệ An, đến
đời ông viễn tổ tên là Cẩn dời đến làng Thụy Khê, tổng Lật
Sài, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Ông là con Phan Huy
Ích, tuy thông minh từ thuở nhỏ, lại lận đận đường khoa cử, đi thi
nhiều lần, chỉ đậu Tú Tài hai lần (1807, 1819), nhưng học vấn rất
uyên thâm. Vua Minh Mạng biết rõ tài học của ông, nên
đã đặc cách cho làm biên tu ở Sử Quán rồi được sung chức Ất Phó Sứ, sang Trung Quốc hai lần
(1824, 1830) rồi đi sứ sang Nam Dương (1832, 1833). Nhờ sở học uyên
thâm, đọc sách nhiều, khi viết sách Dư
Địa Chí đề cập đến phủ Tư Nghĩa, ông không thể không nói
đến Hoàng Sa.
2.13.
Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) có bản khắc Lưu Hội Văn Đường. Năm Thành
Thái thứ 9 (1897) có bản khắc Tụ Văn Đường. Năm Nhâm Thân (1872)
cũng có bản khắc. Năm Duy Tân Đinh Mùi nguyên niên (1907) của
Quảng Văn Đường. xem Emile Gaspardonne, tr 39
2.14. Đại Nam Thực Lục của Sử Quán triều Nguyễn, gồm có Tiền Biên và Chính Biên, chép từng
đời vua (từng kỷ) do vua Minh Mạng sai các sử thần Quốc Sử Quán
triều Nguyễn khởi sự chép từ năm Minh Mạng thứ 2 (1821).
Đại Nam Thực Lục (phần Tiền Biên)
hay Liệt Thánh Thực Lục Tiền
Biên, gồm 13 quyển đóng lại thành 2 cuốn, chép sử việc các chúa
Nguyễn : từ Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng (năm
Nhâm Ngọ 1558) đến Hiếu Thuần Hoàng Đế Duệ Tông (năm Đinh Dậu 1777),
được chép xong và khắc in vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844).
Đại Nam Thực Lục Chính
Biên là phần thứ 2 của bộ sách Đại Nam Thực Lục đệ nhất kỷ, chép đời vua Gia
Long gồm cả thời xưng vương (1778), soạn
xong 1847, khắc in 1848. Đại Nam Thực
Lục Chính Biên đệ nhị kỷ chép đời Minh Mạng, được soạn xong
năm 1861 và khắc in vào năm 1864. Đại
2.15.Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ là bộ sách gồm
26 quyển do cơ quan Nội Các (Nội các được lập vào năm Minh mạng thứ
10 (1829) với nhiệm vụ chuyên giữ công việc ấn chương, giấy tờ
sổ sách của các cơ quan trong triều đình và chép việc làm của
các bộ, viện và điển chế của Nhà Nước đã đem thi hành) của
triều đình Nguyễn biên soạn theo chỉ dụ của nhà vua các
năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tự Đức
thứ 3 (1850) và đầu năm Tự Đức thứ 4 (1851) làm xong. Năm Tự
Đức thứ 8 (1855) bắt đầu khắc in, và năm Tự
Đức thứ 21 (1868) mới hoàn tất
việc khắc in với nội dung chép tất cả các dụ chỉ, sắc lệnh, tấu sớ
đã đem thi hành, kể từ năm Gia Long thứ nhất (1802) đến năm Tự
Đức thứ 4 (1851).
Khâm Định Đại Nam Hội Điển
Sự Lệ Tục Biên chép nội dung từ năm Tự Đức thứ 5 (1852) đến năm
Duy Tân thứ 8 (1914), khởi đầu soạn từ năm Thành Thái thứ 1 (1889) ,
song chỉ mới công bố nội dung từ năm 1852 đến năm 1889; còn lại từ
1889 - 1914 chỉ mới là bản thảo.
2.16. Châu Bản là các văn bản, tấu sớ
của đình thần các bộ, cơ quan địa phương tâu lên Hoàng Đế
đã được “ngự phê” hoặc “ngự
lãm” và thường mang dấu ấn "ngự phê" bằng mực son
đỏ. Ngự phê thường gồm châu phê (được phê duyệt), châu điểm, châu
khuyên, châu mạt. Các tập châu bản triều Nguyễn gồm cả các
bản sắc dụ, chiếu dụ... và các loại công văn, tờ trình, sổ
sách kê khai, những văn bản ngoại giao... còn được lưu
giữ lại. Đó là tài liệu văn thư lưu trữ của triều
đình nhà Nguyễn do các văn phòng của nhà vua mang tên như
Viện Thị Thư, Viện Thị Hàn, Viện Nội Hàn đời Gia Long
(1802 - 1819), Phòng Văn Thư trên đổi thành Nội Các từ năm Minh Mạng
thứ 10 (1829) chịu trách nhiệm bảo quản. Năm Minh Mạng thứ 17
(1836), nhà Nguyễn xây dựng điện Đông Các ở sau nhà Tả Vu của
điện Cần Chánh làm nơi cất giữ các châu bản. Năm 1942,
kho châu bản này được chuyển sang
Viện Văn Hoá thời Bảo Đại và bắt đầu tiến hành kiểm kê, phân
loại. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), kho châu
bản không được quan tâm bảo quản và bị mất mát, hủy hoại khá
nhiều. Năm 1959, viện Đại Học Huế xin tiếp nhận, bảo quản kho châu
bản và bắt đầu thành lập Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam
với nhiệm vụ kiểm kê, nghiên cứu và biên soạn mục lục châu bản triều Nguyễn.
Năm 1960 đã hoàn thành và xuất
bản Mục Lục châu bản triều Nguyễn tập I về triều Gia Long
(1802 - 1819). Năm 1962 xuất bản Mục Lục châu bản triều Nguyễn
tập II về năm Minh Mạng 1 -5 (1820 - 1824). Trước năm 1975, chính quyền
Sàigòn chuyển kho châu bản từ Huế lên Đà Lạt. Năm 1975, chuyển về
Nha Văn Khố Sàigòn. Sau khi miền
Theo thống kê của Ủy Ban Phiên
Dịch Sử Liệu Việt Nam do ông Trần Kính Hoà phụ trách ở Đại
Học Huế năm 1959, kho châu bản có
611 tập và một số tờ rời chưa đóng thành tập. Kết quả kiểm kê của
Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I sau năm 1975 còn 602 tập, chưa tính
số tờ rời. Sau khi kiểm kê thật kỹ, năm 1993 Trung Tâm Lưu
Trữ Quốc Gia I thống kê được 734 tập, chưa kể 40 tập bị
kết dính và 12 tập thì chưa
xác định. Hiện chỉ còn 9,22% ở trong trạng thái tốt. Số còn
lại bị mốc, cũ, kết dính, trong đó có 15% bị hư
hỏng rất nặng. Từ năm 1995, Cục Lưu Trữ Nhà Nước ứng dụng
công nghệ thông tin để xử lý tài liệu châu bản, bước đầu đã
xây dựng được các mẫu tin kèm theo bản gốc đề đưa vào đĩa CD
Rom. Đây là một bộ phận qúi giá của di sản văn hoá đã được
UNESCO xếp vào “ Chương Trình Bộ Nhớ Thế Giới”.
Ngoài ra tản mác tại tư gia còn tàng
trữ một số bản sao về các châu bản bị mất mát trên.
2.17. Bài tựa Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, Nguyễn Thông viết từ
năm Bính Tý (1876) nhân được sung việc khảo duyệt sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục, tác giả đã viết Việt
Sử Cương Giám Khảo Lược, khi viết bài tựa ghi đề năm 1877.
Nguyễn Thông
(1827 - 1894), tự Hi Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am, quê quán
làng Tân Thịnh, huyện Tân Bình tỉnh Gia Định, sinh
năm 1827, mất năm 1894. Năm Tự Đức thứ 2 (1849), ông đậu cử nhân,
làm quan đến bố chánh. Năm 1876, ông được sung việc khảo duyệt sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục của Sử Quán. Nhân dịp đó, ông đã viết
sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược
nói trên.
Việt Sử Cương Giám Khảo Lược gồm 7
quyển. Tác giả đã sưu tầm và sử dụng nhiều tài liệu sử Trung
Quốc có liên quan đến sử Việt
2.18. Đại Nam Nhất Thống Chí là bộ sách địa lý gồm 28
cuốn, mỗi tỉnh một cuốn do sử quán
triều Nguyễn thời vua Tự Đức biên soạn.
Nguyên năm Tự Đức
nhị niên (1849) bắt đầu soạn, hoàn tất năm Tự Đức thứ
14 (1861) song sách rất sơ lược, nhan đề là Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ. Năm 1865 soạn lại theo khuôn khổ
sách Nhất Thống Chí của nhà
Thanh. Đến năm Tự Đức 35 (1882) soạn xong nhưng chưa được khắc in.
Tháng 6 năm Nhâm Ngọ (1882), bản thảo bộ Đại Nam Nhất Thống Chí được làm ra. Vua Tự Đức nghĩ bản ấy
làm ra từ năm Tự Đức thứ 18 (1865) về trước, còn từ đó về sau, các
địa phương xếp đặt thay đổi mới và trung thần nghĩa sĩ
cũng còn nhiều chưa kịp biên nói vào, rồi khiến chép
thêm từ năm Tự Đức 34 (1881) trở
về trước. Xem Quốc Triều Chính
Biên Toát Yếu, Sàigòn, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt
Tuy nhiên, nội dung
bổ sung này bị mất vào thời biến cố 5 tháng 7 năm 1885.
Đến đời vua Thành Thái, các triều thần ở Quốc Sử Quán lại
được lệnh khởi thảo soạn lại, vẫn lấy tên là Đại Nam Nhất Thống Chí. Đến năm Duy
Tân thứ 3 (1910) mới soạn xong 17 quyển (17 tỉnh Trung Việt) mà người
Pháp gọi là Geographie de Duy Tân. Tuy năm 1910 mới hoàn tất 17 quyển
trên, nhưng tất cả tài liệu biên chép đều căn cứ vào những
thay đổi từ 1906 trở về trước, tức là đã cập nhật hoá
những thay đổi từ bộ Đại Nam
Nhất Thống Chí soạn xong năm 1882.
2.19. Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu là
một bộ sử trích các phần quan yếu của bộ Quốc Triều Chánh Biên hay Đại
nam Thực Lục Chính Biên của Quốc sử Quán triều Nguyễn. Sử
chép bằng chữ Hán theo lối biên niên từ đời Gia Long trở về
sau. Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu
trên được Bộ Học vâng chỉ dụ vua Khải Định vào năm thứ 9 (1924)
thực hiện và dịch ra chữ quốc ngữ, để ấn hành ban
cấp cho các trường học với nhan đề chữ quốc ngữ: "Sử Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu".
Bộ sách này gồm có 6 quyển:
Quyển
I: Nguyễn Vương thống nhất sơn hà (1761-1802).
Quyển
II: Thế Tổ Cao Hoàng Đế (1802-1820).
Quyển III: Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế
(1820-1841).
Quyển IV: Hiến Tổ Chương Hoàng Đế
(1841-1849).
Quyển
V: Dực Tông Anh Hoàng Đế (1848-1884).
Quyển VI: Phế đế Hiệp Hoà (1884)
Giản Tông Nghi Hoàng Đế : Kiến Phúc
(1884-1885)
Cảnh Tông Thuần Hoàng
Đế : Đồng Khánh (1885-1888)
2.20.
Năm Bính Tý (tức Khang Hy thứ 35, 1696), Chúa Nguyễn Phúc Chu cho
đề tựa cuốn sách của Thích Đại Sán.
Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán
tức hoà thượng Thạch Liêm, hiệu Đại Sán Hán Ông, quê quán
Chiết Giang trụ trì ở chùa Trường Thọ, Quảng Châu, tỉnh Quảng
Đông. Ông được Chúa Nguyễn Phúc Trăn tức Chúa Ngãi mời
2, 3 lần sang thuyết pháp. Song đến đời Nguyễn Phúc Chu mới sang
ở Nam Hà từ 29 tháng giêng năm Ất HơÏi (13 - 3- 1695) đến hạ tuần tháng 6 năm Bính Tý (1696).
Ông đã ghi chép chuyến đi “xứ Quảng Nam” này từ tháng 8 năm
Giáp Tuất (Khang Hy 33, 1694) lúc Thích Đại Sán tiếp kiến sứ giả của
Chúa Nguyễn Phúc Chu tại chùa Trường Thọ cho đến khoảng tháng
11 năm Ất Hợi (Khang Hy 34, 1695) lúc ông trở lại Thuận Hoá vì
ngược gió đưa trở về Quảng Đông thì chấm dứt.
Hải
Ngoại Kỷ Sự gồm 6 quyển, hiện còn tàng trữ ở Đông Dương
Văn Khố Nhật Bản và Quốc Lập Trung Ương Đồ Thư Quán Trung Hoa. Bản
của Đông Dương Văn Khố ở kệ sách số 11, 11 - K - 56, chia 6 quyển,
đóng thành 2 tập. Còn bản của Trung Ương Đồ Thư Quán thì 6
quyển đóng thành 2 tập.
2.21. Cù Lao Ré có tên Ré là vì ở đây trước kia
có nhiều ống ré dùng làm dây rất dai và bền.
2.22. Theo Phạm Trung Việt,
Non nước xứ Quảng tân biên, diện tích là 19 km2.
2.23. Khảo sát tháng 7 -
1996 của Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi cho biết đã khai quật
bốn ngôi mộ chum thuộc văn hoá Sa Huỳnh ở xóm Oác ( Lý Vĩnh) đảo Lý
Sơn. Xem Nguyễn Quang Tùng, “Di sản văn hoá Lý Sơn” và Đoàn
Ngọc Khôi “Nguồn gốc và minh lễ xưa trên đảo Lý Sơn”, tạp chí Cẩm Thành, số 9 tháng
8-1996 ( Quảng Ngãi), tt 21 - 28.
2.24. Theo truyền thuyết
mỗi làng đãù bị truất
1 ông tiên hiền vì sự quá quắt của sưu veä; nếu không
là 7 vị ở Lý vĩnh,8 vị ở Lý
Hải, tổng cộng là 15 vị.
2.25.
8 đời chúa, 164 năm gồm : Nguyễn Phúc Nguyên- Chúa Sãi
(1613-1635), Nguyễn Phúc Lan- Chúa Thượng (1635-1648),
Nguyễn Phúc Tần- Chúa Hiền (1648-1687), Nguyễn Phúc Trăn-
Chúa Nghĩa (1687-1691), Chúa Nguyễn Phúc Chu - Quốc Chúa
(1691-1725), Nguyễn Phúc Trú (1725-1738), Nguyễn Phúc Khoát
(1738-1765), Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777).
2.26. Giám thành theo Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự
Lệ, quyển 143, từ năm Minh Mạng thứ 3 tâu của Bộ Công được vua
chuẩn: Chiêu mộ dân ngoại tịch ở các doanh trấn, người nào am
hiểu đồ họa, xét quả thực, cho bổ
vào vệ giám thành. Giám thành được tổ chức thành vệ ở kinh
thành càng ngày càng hoàn chỉnh. Năm Minh Mạng thứ 14, tấu của Bộ
Công được chuẩn : “ Vệ giám thành
lệ thuộc ty Hộ thành binh nữa, chuyên việc vẽ đồ
bản và chỉ bảo cách thức xây dựng”.
Vệ giám thành chia thành đội, khoảng 4
đội, có khi tới 10 đội. Mỗi đội gồm 50 người là đúng biên
chế, có khi thiếu người chỉ gồm 20, 30, 40 người.
2.27. Sang thế kỷ XVIII, XIX, hai nước Anh, Pháp trở thành
hùng mạnh về hải quân. Hai nước này đã tích cực thành lập cơ
quan thủy đạc hải quân chính
thức, trước hết Pháp năm 1720, rồi Anh năm 1795 . Năm 1795, cơ quan
thủy đạc hải quân Hoàng Gia Anh, mà giám đốc đầu tiên là Alexander Dabrynuple
vốn là một thủy đạc trưởng của công ty Đông Aán (East India
Company) đã tổ chức nhiều cuộc khảo sát do Biển Đông xảy ra
nhiều vụ đắm tàu. Năm 1808, cơ quan này khảo sát vùng Hoàng Sa. Từ
đó, Horsburgh xuất bản Hải Đồ tờ 1 năm 1821 và tờ 2 năm 1821.
2.28. Biền binh nói chung binh lính các binh chủng thời
Nguyễn.
Chương 3
3.29. Pratas tên
một thuyền trưởng Anh được đặt tên cho nhóm đảo san hô cách cửa
sông Châu Giang khoảng 400 km về phía Đông Nam vào cuối thế kỷ 19 khi
thuyền của ông ghé vào tránh bão, xuất hiện trên bản đồ
trong cuốn “South China Sea Director” do hải quân Anh xuất bản năm 1894
3.30.Nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú là chỉ vùng bờ bắc Trung Bộ Java.
3.31 BộT Nê nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú Calimantan.
3.32 Khi nhóm Hàn Chấn
Hoa chú giải về sách Hải Đảo Chân Kinh
chỉ Nam Chinh Pháp
3.33 Theo Pelliot, “Deux
iténéraires de Chine en Inde” BEFEO,
t w, người Trung Quốc phiên âm thành K”ouen luoen hay K’ouen –t’ouen. Xem Đai
Nam Nhất Thống Chí (bản
dịch Phạm Trọng Điền) Hànội:
nxb Khoa Học Xã Hội, 1971, tr149
3.34 Thông tri khác đăng trong Journal officiel de la République Française, 26 Juillet 1933, bỏ ngày 10-7-1933 lấy ngày 26
tháng 7 năm 1933.
3.35. Xem nguyên văn bản thông báo đăng trong Journal de la République
Française 25 Juillet 1933, phần Avis -
Communication ou Ministères des Affaires Étrangères, p 7794.